22 tháng 9, 2015

Cuba, một cuộc cách mạng “trắng”



Bài này có nguyên tác là “Cuba, rivoluzione “bianca””, của nhà sử học Andrea Riccardi, đăng trên tập san “Avvenire”, cơ quan ngôn luận của Hội đồng Giám mục Ý, ngày 17/09/2015

Trước khi Đức Giáo Hoàng Francesco bắt đầu chính thức công du sang Cuba, nhà xuất bản Francesco Mondadori đã cho in lại một quyển sách trong đó ghi lại những văn bản do chính Jorge Mario Bergoglio đã viết gần hai mươi năm trước đây, trong đó Bergolio đã nêu rất rõ những lý do của một “sáng kiến” mà bây giờ đang trở thành hiện thực: quyển sách có tên “Một thoáng nhìn Cuba. Sự khởi đầu của quan hệ đối thoại. John Paul II và Fidel Castro” với phần giới thiệu của nhà sử học Andrea Riccardi. Dưới đây chúng tôi đăng tải một đoạn trích. Đây là một quyển sách giúp người ta có thể hiểu về những nền tảng của một quan hệ đối thoại đã làm thay đổi lịch sử. Tháng 1 năm 1998: Đức Giáo Hoàng John Paul II đến Cuba và gặp Fidel Castro. Đó là sự khởi đầu của một lộ trình, và lộ trình này sẽ được hoàn thành với chuyến công du của Đức Giáo Hoàng Francesco sang Cuba vào những ngày sắp tới, sau khi Mỹ, nhờ sự trung gian kín đáo của các Đức Giáo Hoàng, đã đi đến công bố chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận đối với Cuba, Năm 1998, Jorge Mario Bergoglio, lúc ấy đang là Tổng giám mục của Buenos Aires, đã cho ra đời văn bản này sau khi Ngài đã suy ngẫm đào sâu phân tích ý nghĩa của chuyến công du thời ấy của Đức Giáo Hoàng Wojtyla ở Cuba. Một cái nhìn về Cuba” vốn đã bắt đầu xây dựng cội rễ cho sự thay đổi đột phá của ngày hôm nay.


Đoạn trích của quyển sách:

Cuba một thực tế rất đặc biệt đối trong khu vực Châu Mỹ Latin. Một mặt xác định quan hệ gắn bó chặt chẽ với nền văn hóa lịch sử của châu lục, nhưng mặt khác lại mang một bản sắc riêng biệt gắn liền với cuộc cách mạng của Castro năm 1959 với chế độ xã hội chủ nghĩa được thiết lập sau cuộc cách mạng đó và đến này Cuba vẫn còn theo chế độ nói trên. Vừa giống như thế giới Châu Mỹ Latin, mà Cuba là một bộ phận gắn liền với thế giới ấy, nhưng cùng lúc Cuba rất khác xa với thế giới ấy. Vấn đề không phải là chỉ là hệ thống chính trị-xã hội do chính sự can thiệp của Liên Xô áp đặt, na ná như ở Đông Âu. Cuộc cách mạng Cuba một cuộc cách mạng bản địa, nhưng sau đó đã trở thành một mô hình cho nhiều cuộc cách mạng (thường thất bại) trên lục địa Châu Mỹ Latin và ở các nơi khác trên thế giới. Đây là một chế độ xã hội chủ nghĩa “trường thọ” nhất trong khu vực: đến nay vẫn còn hiện hữa sau khi Fidel Castro rút lui.

Cuba xã hội chủ nghĩa cách mạng là một huyền thoại cũng là một lý tưởng đối với nhiều người ở Châu Mỹ Latin (đặc biệt giữa các thế hệ trẻ), nhưng đồng thời cũng là một bóng ma gây mất ăn mất ngũ cho một số chính phủ và các nhóm quyền lực đã được thành lập. Đó là các Tổng thống Mỹ trước tiền thân của Barack Obama. Thậm chí đến ngay cả những người không chia sẻ với hệ thống xã hội chủ nghĩa (chủ yếu là những người Nam Mỹ), Cuba vẫn giành được thiện cảm nhờ vào vị trí đối kháng với Mỹ khi Mỹ quyết định áp đặt lệnh cấm vận Cuba từ năm 1962 (ở vào thời điểm đó mức độ nhập khẩu của Mỹ chiếm 74% toàn bộ xuất khẩu Cuba). Chính nhờ vào những yếu tố kể trên, Cuba, đặc biệt là khu vực Châu Mỹ Latin, lại có vị thế quan trọng hơn so với tầm vóc kinh tế nhân số của chính Cuba. Bergoglio đã nhận thức được điều này đánh giá rằng Cuba một thử nghiệm cho các mối quan hệ giữa các nước Châu Mỹ Latin với Hoa Kỳ.

“Thiên hạ” đồn rằng Đức Giáo Hoàng Francesco đã nói với Tổng thống Obama, trong chuyến thăm Vatican: Nếu Ngài muốn tranh thủ cảm tình của những người Châu Mỹ Latin, thì Ngài phải cố gắng giải quyết vấn đề với Cuba”. Và thế là đã xảy ra sự kiện lịch sử hôm 14/12/2014: chấm dứt tình trạng cấm vận kéo dài hơn nửa thế kỷ qua. Raul Castro, trong một cuộc họp thượng đỉnh với các nước Châu Mỹ Latin, đã công nhận rằng nó sẽ không các cuộc họp với Mỹ, nếu không quyết định của Obama, vị Tổng thống Mỹ khác biệt so với những người tiền nhiệm, bởi chính nhờ “nguồn gốc xuất thân khiêm tốn” của chính Obama. Đức Giáo Hoàng Francesco đã đóng vai trò một trung gian kín đáo giữa hai chính phủ. Bản thân ông, vào năm 1998, khi viết những văn bản này, cũng đã gây ra một cuộc thảo luận về chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng John Paul II ở Cuba, nhưng Bergoglio cũng đã cho thấy là Ngài tin tưởng rằng sự kiện Cuba trọng tâm của các mối quan hệ xuyên lục địa Châu Mỹ các quan hệ thế giới. sự có mặt của Đức Giáo Hoàng Wojtyla, gần hai mươi năm trước đây, sự kiện đầu tiên đi về hướng của quá trình giải toả các căng thẳng giữa hai nước (Mỹ và Cuba).

Vị Hồng Y Á Căn Đình, lên ngôi Giáo chủ của Giáo Hội La Mã năm 2013, luôn luôn có những ý tưởng rất rõ về Cuba: về sự cần thiết của quan hệ đối thoại giữa Giáo hội với chính quyền Cuba, giữa giáo hội với người dân, về sự phi lý của các quyết định cấm vận. Từ nhiều năm nay, Ngài đã tin rằng cần phải kết thúc quát trình cô lập Cuba. Cần phải thay thế những thiệt hại về kinh tế và chính trị của sự cô lập này bằng những quan hệ hợp tác với khối xã hội chủ nghĩa và Liên Xô; nhưng, sau năm 1989, với sự cáo chung của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu, Cuba đã phải bắt đầu trải qua một giai đoạn khó khăn cho nền kinh tế. Trong chiều hướng nào đó, sự cô lập cũng đã khiến nhà nước Cuba đi đến những chọn lựa chính trị cực đoan. Điều này khiến những người không chấp nhận sống trong một tình trạng khó khăn vừa kinh tế , đặc biệt, vừa chính trị, đã phải chon lựa di cư.

Chuyến công du của Đức Giáo Hoàng John Paul II đã “phá vỡ” sự cô lập Cuba thông qua đối thoại: “ Cuộc viếng thăm của John Paul II là một đóng góp cực kỳ quan trọng, bởi vì, theo một chiều hướng nào, nó có nghĩa là cần phải mở các kênh thông tin liên lạc”. Tất cả những điều này là một điểm then chốt của những suy ngẫm phân tích của một nhóm nghiên cứu do chính Bergoglio chủ trì, người đã thấy được tâm điểm của chuyến viếng thăm của Đức Giáo Hoàng lúc ấy. Thật vậy, khẩu hiệu quan trọng trong thông điệp của Đức Giáo Hoàng John Paul II trong chuyến thăm Cuba lần đó là: “Cuba hãy mở cửa ra với thế giới và thế giới hãy mở cửa đón nhận Cuba.

Báo chí phương Tây thời đó đã giải thích khẩu hiệu này cùng với chuyến đi của Đức Giáo Hoàng như là một sự bắt đầu của sự kết thúc của chủ nghĩa cộng sản trên các hòn đảo Cuba dựa trên mô hình của quá trình chuyển đổi Ba Lan trước đó (Lời bình của người dịch: tức là vị Đức Giáo Hoàng Ba Lan muốn “xuất khẩu” mô hình cải cách của Ba Lan sang Cuba) . Có thể nói là chuyến viếng thăm Cuba là sự “tái bản” của các chuyến tông du của Đức Giáo Hoàng tại Ba Lan, nhằm thúc đẩy tinh thần độc lập của dân Ba Lan. Cũng có thời người ta bàn đến khả năng tổ chức một chuyến công du của Đức Giáo Hoàng John Paul II sang Trung Quốc, thì lập tức nỗi lo sợ nhất của chính quyền Bắc Kinh là những ảnh hưởng “tuyên truyền nhằm lật đỗ chính quyền” do chính những tác động của những “gặp gỡ” của Đức Giáo Hoàng. Thật ra đó là những nỗi sợ hãi bị phóng đại. Bởi vì Đức Giáo Hoàng John Paul II cũng thừa thông minh để tin rằng lịch sử không lặp lại y hệt như thế (như ở Ba Lan). Bên cạnh đó Fidel Castro cũng biết sức mạnh vững chải của chế độ Cuba cũng như sự yếu ớt đất nước mình: do đó (Fidel Castro) đã không có những mối quan tâm sự hãi đối với Đức Giáo Hoàng . John Paul II chỉ muốn giúp hòn đảo này xây dựng một mối quan hệ mới với thế giới và với Hoa Kỳ; để phát triển xã hội Cubahỗ trợ Giáo hội Công giáo Cuba. Đức Giáo Hoàng đã thẳng thừng lên án lệnh cấm vận: “Không thể tước quan hệ của người Cuba với các quốc gia khác. Không chỉ riêng chính phủ, mà cả những người dân Cuba.

Các nhận xét của Bergoglio về Cuba cho thấy sự quan tâm lớn của thế giới Công giáo trong những thập niên chín mươi đối với Cuba: có thể nói rằng với chuyến công du của Wojtyla, lúc ấy người ta đang đi tìm một phải pháp “Công Giáo”, tức là một giải pháp xuyên qua đối thoại để chấm dứt tình trạng phong tỏa quốc tế. Hơn nữa, mặc dù một số thời điểm có những khó khăn giữa chính quyền Castro và Tòa Thánh, nhưng lúc nào quan hệ ngoại giao hai bên vẫn không bao giờ bị phá vỡ. Một số khâm sứ, sứ giả của Toà thánh ở Cuba, như Đức ông Cesare Zacchi, đã đóng một vai trò trong quá trình giải toả những khó khăn. Đức Giáo Hoàng John XXIII (1881-1963), trong thời điểm của cuộc cách mạng Castro, đã cầu nguyện để tránh sự tái diễn như đã xẩy ra ở các Đông Âu. Cuộc cách mạng Cuba đã diễn ra nhưng không hề có đổ máu trong giới linh mục. Bầu không khí giữa nhà thờ và nhà nước không có gì gọi là tốt, nhưng không thể so sánh như đã xảy ra ở các nước Đông Âu. Phần lớn những hạn chế đối với Giáo Hội đều nhắm đến các hoạt động kinh kệ cúng bái. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Cuba không bao giờ kiẻm soát việc tấn phong linh mục hay giáo sĩ. Nhân vật như Đức Ông Carlos Manuel de Cespedes, hậu duệ của một gia đình nỗi tiếng ở Cuba, đã từng đóng vai trò Tổng thư ký của Hội đồng Giám muc trong nhiều năm, thường đóng vai trò trung gian với bên phía chính phủ vốn rất nễ trọng ông. Thời điểm khó khăn nhất là khi chính phủ trục xuất một trăm ba mươi hai linh mục (không phải người Cuba) vào năm 1961, sau khi xảy ra vụ đổ bộ của Mỹ tại Vịnh Con Heo. Tuy nhiên, đến thời điểm của chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng năm 1998, những những câu chuyện ấy xem ra đã thuộc về quá khứ.

Đức Giáo Hoàng Francesco, vốn là người thuộc Châu Mỹ Latin, đã hoàn thành được nhiều điều mà những người trước ông đã ôm ấp, và phần nào cũng nhờ vào những quan hệ trao đỗi đối thoại với Tổng thống Obama. Ngài đã cho thấy sức mạnh của đối thoại. Đọc các trang sách nói về suy ngẫm phân tích của cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng John Paul II vào năm 1998, sẽ giúp người ta hiểu rõ hơn những góc nhìn xưa nay của  Bergoglio với sự quan tâm rất lớn đối với Cuba, bởi vì Ngài tin rằng Giáo Hội cần phải có một vai trò trong bối cảnh này. Ngày nay, những tầm nhìn ấy đã  trở thành hiện thực cũng sẽ là các chính sách của Giáo triều của Đức Giáo Hoàng Francesco.

Roma, 19/09/2015
chuyển ngữ

Đức Giáo Hoàng và vị Lãnh đạo tối cao, giữa Jorge và Fidel hai cuộc cách mạng quyện vào nhau.



Trước sự trống rỗng của đoạn cuối của “triều đại” Castro sự tan nát của chủ nghĩa xã hội, Giáo hội được coi như là “mạng lưới an toàn” duy nhất còn lại của những thành phần nghèo khó nhất trong xã hội trong quá trình chuyển đổi ở Cuba.


Nguyên tác bài này có tên “Il Papa e il Lider, tra Jorge e Fidel l’abbraccio di due rivoluzioni” của đặc phái viên Vittorio Zucconi của nhật báo “la Repubblica” ở Washington đăng ngày 21/09/2015

*********

Giữa hai bàn tay của hai ông già, run rẩy xiết chặt nhau trong khoảng 41 phút, như một lời từ biệt, là một cuộc cách mạng đang len lỏi luồn qua để thay thế một cuộc cách mạng khác. Lịch sử Cuba của Fidel, hôm nay trên ngưỡng cửa cữu tuần trong có vẻ như một thầy tu già dịu hiền hơn là một  vị tướng nỗi loạn hào hùng trên những chiến khu đồi núi, đang chuyền sang tay của Bergolio, một người Á Căn Đình giống như Che, nhưng có điều Bergolio không nắm một tấc vũ khí. Tất cả những bí mật của sự kiện “chuyển đổi” nói trên nằm trong một cuộc gặp gỡ riêng tư sau một buỗi lễ ban phước lành cho 500 ngàn người vốn đang hy vọng vào một tương lai, nhưng cũng chính tương lai đó cũng mang nhiều lo âu khắc khoải.

Việc chuyển đổi giữa hai cuộc cách mạng, được đóng dấu bằng một cuộc gặp gỡ cực kỳ riêng tư mang hương vị của một cuộc xưng tội và làm cũng cố thêm những lời đồn đại về một khả năng “chuyển hoá” của một ông lão thời trẻ con đã được giáo dục bởi các vị linh mục dòng Tên (Gesuiti), đã diễn ra sau khi Đức Giáo Hoàng Francesco đã cử hành thánh lễ ngay chính tại quảng trường Cách mạng, nơi mà tất cả mọi mâu thuẫn của thế kỷ 20 đã đối đầu nhau, để rồi bây giờ cây Thánh giá với hình tượng Đức Chúa đang “thay thế” chân dung của Querido Commander của thời quá khứ, Ernesto Guevara. Không cần phải những tuyên bố “đao to búa lớn”, Đức Giáo Hoàng Francesco, chỉ với hình ảnh chân thực và uy quyền giáo chủ của chính mình, đã mang đến đây một điều gì đó mà chính những người tiền nhiệm của ông đã đặt chân trước đây lên Cuba, Đức Giáo Hoàng Ba Lan Karol và Đức Giáo Hoàng Đức Joseph  cũng đã không làm được: đó là những trải nghiệm bản thân, trực tiếp, mang tính nhân bản, của một “Latin bị áp bức và hy vọng được giải phóng, nhưng không phải bằng nòng súng, ở phía nam châu lục Mỹ.

 20/09/2015 -  Thánh lễ của Đức Giáo Hoàng Francesco trên Quảng trường Cách mạng ở Havana

Trong một sự đảo ngược toàn bộ vị trí, hôm nay chính vị Đức Giáo Hoàng, vốn cũng được giáo dục bởi các linh mục dòng Tên, mang một thông điệp tính cách mạng đến cho một quốc gia đang được lãnh đạo bởi những cựu trò cũng của các linh mục dòng Tên như hai anh em nhà Castro. vị lãnh đạo cách mạng huyền thoại, nhưng cũng rất mong manh yếu đuối, đang đại diện cho tất cả những gì còn sót lại của một sự đề kháng bảo thủ ngày càng yếu ớt. Tất cả mọi người, từ anh em nhà Castro đến Bergoglio, cũng như tất cả những người Cuba, đều đang cố gắng tìm cách tái tạo lại một cuộc sống “cho ngày mai”, nhưng tất cả đều có chung một cảm giác, một cảm giác không nói thẳng ra được: nỗi lo sợ khắc khoải cho một tương lai của hòn đảo có thể sẽ là một sự quay về bất hạnh với một quá khứ đê tiện nhất của lịch sử của đất nước này.

Giáo hội Công giáo Cuba, một tổ chức khiêm tốn, nằm bên lề của cơ chế, sống sót một cách lơ lửng trong một nửa thế kỷ đầy trở ngại cấm đoán, với một “biên chế” chỉ có 300 linh mục trong một đất nước có 12 triệu dân, bị cấm đoán bất kỳ hoạt động tông đồ hay giáo dục nào, thậm chí còn bị cáo buộc là đồng loã hơn là đối lập với chế độ độc tài Castro, nhưng hiện nay lại đang trở thành một tổ chức có thể có khả năng trở thành một chọn lựa duy nhất còn lại, một con đê che chắn, nơi trú ẩn cho các tầng lớp xã hội sẽ bị hất ra bên lề trước các cuộc tiến công tham lam và trả thù của tư bản sau khi chế độ nhà nước sụp đỗ và sự trống trắng của đảng cộng sản sau khi anh em nhà Castro ra đi vĩnh viễn.

Kể từ năm 1991 khi Cuba bị những tay múa rối Liên Xô bỏ rơi tàn nhẫn khiến hòn đảo gần như bị huỷ diệt … cho đến sự kiện công nhận lẫn nhau giữa Mỹ và Cuba hồi tháng 8 vừa qua, và chắc chắn sẽ không còn bị cấm vận, những ai đã có dịp đến Cuba vào những tháng năm dài đó, thời của “buổi hoàn hôn của giáo trưởng Cuba”, và bây giờ có dịp quay lại đây, đều cảm nhận được rằng tất cả những người dân Cuba, xuyên qua những câu hỏi dò xét với những “du khách”, đang có những lo âu, khắc khoải vốn đang bao trùm lên một dân tộc đang sắp sửa “sang trang” tận gốc rễ.  Một mặt là niềm hy vọng sự quay trở lại ồ ạt của đám yankee, những người Mỹ vừa đáng yêu nhưng cũng vừa đáng ghét, sẽ mang theo giàu có thịnh vượng, nhưng mặt kia là sự lo âu của những thành phần xã hội thấp kém, những người chỉ biết sống vào đồng lương cố định hay vào phúc lợi xã hội, những thành phần này sẽ rất có thể sẽ rơi vào những những cái hố nghèo túng cùng cực, bị đẩy ra bên lề của quá trình “phát triển kinh tế” cũng như chính những người Nga đã trải nghiệm khi họ bị đẩy lùi ra khỏi các “câu lạc bộ” của các nhóm quyền thế khi Liên Xô tan rã.

Trong giai đoạn sắp tới khi mà hai anh em Castro sẽ để lại một khoảng trống và sự tan hàng rã ngũ của cơ chế xã hội chủ nghĩa ở Cuba, thì chỉ còn có Giáo hội công giáo là có khả năng đứng ra đóng vai trò “mạng lưới an toàn”  để cứu vớt những gia đình và những trẻ em nghèo khó trong quá trình chuyển đổi sang trang “cuồng bạo” giữa hai thời đại. Giáo xứ, trường học, các bệnh viện và trạm y tế của nhà thờ, những tổ chức thiện nguyện vốn đến hôm nay vẫn còn bị đóng cửa hoặc thậm chí bị cấm hoạt động sẽ trở thành những cái phao cứu rỗi họ, và không phải chỉ cứu rỗi linh hồn. Trong khi Karol Wojtyla là người xem  quyền tự do tôn giáo và chính trị như sao chổi dẫn đường, trong khi Joseph Ratzinger là hậu vệ của sự trung thành với Đức tin và tính chính thống của Giáo hội, thì Jorge Bergoglio, trước hàng vạn sanh linh ở Cuba, là vị Đức Giáo Hoàng có đủ uy tín để lên tiếng chống đối lại sự tham lam và cướp bóc của chủ nghĩa tư bản, một chủ nghĩa mà ngay chính ở Nam Mỹ và vùng Caribe đã gây ra những thảm hoạ tàn bạo nhất.

Bergoglio kêu gọi “hòa giải hoà hợp”, cũng như chính Hồng Y của Havana, Jaime Ortega Alamino, đã nhiều lần lặp đi lặp lại trước cộng đồng của những người Cuba ở hải ngoại (Cuba kiều), mà ngày hôm qua, nhờ vào vào các tuyến đường hàng không vừa mới được Obama cho phép mở, đã đến tham dự cùng người thân và bạn bè tại Quảng trường Cách mạng.

Lý do mà Bergoglio đang lớn tiếng kêu gọi tha thứ lẫn nhau, là vì Giáo hội lo sợ sẽ có thể nổ ra những màn trả thù, thanh toán những món nợ ân oán, niềm hận thù đã ăn sâu vào các thế hệ trong gần 60 năm của “một bức tường”, những năm đã “đông lạnh” Cuba, nhưng đồng thời cũng đã “bảo vệ” Cuba trong cái vỏ cứng của nó.

Đây chính là một thông điệp hòa bình mang tính cách mạng: bởi vì nó được xây dựng không những chỉ trên sự tự do tư tưởng và chính trị, mà nó còn nói đến công bằng xã hội. Và chính đây là điều đặc biệt nhất của chuyến công du của Bergoglio ở Cuba, và đồng thời cũng làm “áy náy” anh láng giềng vĩ đại phía bắc vốn đang chờ đợi Đức Giáo Hoàng Francesco lên bục giảng của Quốc hội Mỹ.

Đối với những ai xem bất kỳ những lời chỉ trích lên án sự tham lam và xấc láo của “nền kinh tế tài chính” đều là những sản phẩm của ý thức hệ toàn trị thì Đức Giáo Hoàng Francesco “rất là cộng sản”, nhưng trưa ngày hôm qua, tại Quảng trường Cách mạng ở Havana bánh xe lịch sử đã chuyển động. Do chính bàn tay của một người đàn ông không có được một tiểu đoàn lính trong tay đẩy tới, nhưng chính bàn tay ấy đang làm run chuyển những “thượng đế” và tạo hy vọng cho những người dân trần tục thấp cổ bé miệng.

Roma, 22/09/2015 

chuyển ngữ

13 tháng 9, 2015

Cuộc chiến ở Syria: đã đến lúc cần phải có một bước ngoặt lớn cho khu vực Trung Đông.



Các cuộc oanh kích cũng sẽ không đủ sức chận nỗi ISIS, trong khi đó chiến sự đang lây lan sang đến Lybia. Vấn đề hiện nay là cần phải có những “cân bằng” mới giữa các quốc gia trong khu vực.

Nguyên tác bài này “In Siria è l’ora di una Yalta mediorientale” của ký giả Umberto De Giovannageli đăng trên nhật báo “l’Unità” ngày 11/09/2015.

**********


Để tránh cho tình trạng giết chốc thảm sát vì chiến sự hiện nay ở Syria có thể lan rộng ra toàn khu vực Trung Đông theo kiểu “domino”, và thậm chí cơn “hỏa hoạn” sẽ có thể cháy lan ra khỏi khu vực mở đường cho một cuộc đại chiến thế giới lần thứ ba, cần phải có một cuộc hòa đàm toàn bộ giống như cuộc hòa đàm ở Yalta (*) hồi năm 1945 để “dàn xếp lực lượng” giữa các cường quốc trên thế giới.

Sự hiện diện của quân đội Nga, dưới dạng “chuyên gia” và “cố vấn”,  trên mặt trận Syria cho thấy một điều rất hiển nhiên: cuộc chiến hiện nay ở Syria là một cuộc “chiến tranh ủy nhiệm” (proxy war), trong đó những người xuất hiện như nhân vật chính của cuộc chiến: từ nhà độc tài Bashar al-Assad đến tay đồ tể “califfo” Abu Bakr al-Baghdadi, đều chỉ là những con tốt trên một bàn cờ giữa Washington, Mosca, Riad, Ankara, Teheran, Tel Aviv. Và “tiền cá cược” chính là những thế cân bằng lực lượng mới trong một trong những khu vực trọng yếu của thế giới. Có một điều chắc chắn là không ai có thể ảo tưởng rằng có thể tiếp tục duy trì hiện trạng ở Trung Đông như các cường quốc đã vạch ra trong những thập niên chót. Cần phải nhận thức rằng cái hiện trạng nói trên trên thực tế đã bị “cuốn theo chiều gió” trước “mùa xuân Ả Rập” và “mùa đông Hồi Giáo” trong những năm gần đây.

Ấy vậy mà Tây phương vẫn cứ cứng đầu cứng cổ không chịu nhìn nhận sự thật, vẫn cứ t giam mình trong một ảo tưởng nhất thời nông cạn, và cứ tiếp tục đưa ra những giải pháp cục bộ, giải quyết các cuộc xung đột theo từng quốc gia một mà không có được một cái nhìn toàn bộ để thấy là các cuộc xung đột trong khu vực đều được nối liền nhau bằng một sợ chỉ xuyên suốt: từ chiến tranh ở Syria đến “nội chiến” Lybia, từ những xung đột “nội bộ” ở Ai Cập đến những căng thẳng ở Yemen, đến sự thách thức của các nhóm thánh chiến Hồi giáo cực đoan ngay trong lòng của vương quốc Ả Rập Saudit. Vấn đề chính ở Syria hiện nay không phải chỉ đơn thuần là sự sống còn của chế độ của Assad và bè lũ của hắn. Sự hiện diện của quân đội Nga ở Syria cho thấy là Nga đã chuẩn bị để đối phó với kịch bản hậu Assad. Mosca cũng thừa biết là chế độ của Assad cũng sẽ chẳng còn thọ bao lâu nữa và thế là Nga đã quyết định “phủ đầu” bằng cách tăng cường sự hiện diện của mình trên “hiện trường”: trước hết là để tăng cường phòng ngự cho các căn cứ quân sự mà Nga đang có ở Syria – chủ yếu là căn cứ ở Tartus, rồi sau đó để có “áp lực” khi ngồi vào bàn hiệp thương để quyết định các cán cân lực lượng mới ở Syria. Đồng thời ngay chính cả Mỹ lẫn Châu Âu cũng thừa biết rằng nếu không có sự hiện diện quân sự của Nga … thì chỉ trong chớp mắt là cờ đen của Nhà nước Hồi Giáo (ISIS) cũng bay phất phới trên nóc của dinh tổng thống Syria, ngay trong trung tâm của thủ đô Damasco.

Tất cả các nhân vật chính trên bàn cờ Syria hiện nay đều ý thức được rằng không hề có một giải pháp quân sự để giải quyết tình trạng chiến cuộc ở Syria, để tạo ổn định và để chấm dứt các cuộc thảm sát người dân vôi tội và tạo ra một làn song di cư ồ ạt sang Châu Âu để tránh bom đạn chết chóc, và nhất là để đi tìm một sự ổn định trong khu vực Trung Đông. Ngay chính cả việc đánh bại Nhà nước Hồi giáo (ISIS) cũng chỉ là vấn đề chính trị chứ không phải là vấn đề quân sự: tay thủ trưởng đồ tể al-Baghdadi cũng chẳng phải là hiện thân của một giáo chủ Hồi giáo nào cả và đạo quân ISIS cũng chẳng phải là một đạo quân vô địch, bởi vì nếu không có Ả Rập Saudit đứng sau lưng với các nguồn hổ trợ tài chính của các nhóm quý tộc vua dầu hỏa thuộc sắc tộc Sunni thì Nhà nước Hồi giáo cũng chẳng sống được cho đến ngày nay. Nhà nước Hồi giáo, mà hiện nay ở Tây Âu báo chí hay nhắc đến như một lực lượng quân sự đang đe dọa nền “văn minh Ki-tô”, thực ra cũng chỉ đang kiểm soát một vùng đất rộng khoảng bằng diện tích nước Ý (không tính các đảo), trong dó có một dân số khoảng 11 triệu người. Sai lầm lớn là hiện nay công luận thế giới vẫn cho rằng ISIS là một biến số có trọng lượng, thậm chí còn nguy hiểm hơn cả al-Qaeda. Thực ra thì không phải như thế. Toàn bộ “cơ chế” của ISIS, từ các “bộ” đến các văn phòng hành chánh, đến các trung tâm xã hội, thậm chí đến cả tiền lương chi trả cho các chiến binh, kể luôn cả việc tìm vợ cho các chiến binh anh hùng nhất … tất cả đều nhờ vào nguồn tài chính hổ trợ nói trên. ISIS không phải chỉ đơn thuần là dã man và bạo lực áp bức. Còn có mặt trái của nó, mà công luận Tây Âu ít khi biết đến: các hoạt động “phúc lợi xã hội” (welfare) của nhà nước Hồi giáo do chính al-Baghdadi tái dng ngay trên những vùng đất chiếm cứ ở Syria và ở Iraq, những vùng chiếm cứ và nay đang được ISIS “cai quản”. Đất của sắc tộc Sunni trở về tay Sunni. ISIS không phải chỉ cai quản bằng bạo lực áp bức, mà đôi khi cũng nhờ vào các sai lầm chiến lược của các lực lượng đối thủ, chẳng hạn như sai lầm của Mỹ ở Iraq khi Mỹ quyết định ủng hộ chính phủ thuộc sắc tộc Shia của Maliki – vốn là người “thân tín” của Teheran, do đó thay vì hòa giải hòa hợp thì chính phủ Maliki không làm gì khác hơn là phân biệt đối xử, cô lập, hạ nhục những người thuộc sắc tộc Sunni. Tất cả những chuyên gia hiểu biết tường tận về vũ trụ Hồi giáo triệt để đều đồng ý rằng bất kỳ ai  muốn kiểm soát và cai trị một lãnh thổ, một nhà nước, đều phải đặt mục tiêu chính trị cho các công cụ quân sự và khủng bố, điều này có giá trị với lực lượng Hezbollah ở Libano, với Hamaz ở Gaza … và với Nhà nước Hồi giáo trên những vùng đất chiếm cứ. Trong chừng mực nào đó thì ý chí muốn báo thù của sắc tộc Sunni chống lại sắc tộc Shia cũng đã tạo ra được sự đồng thuận đối với Nhà nước Hồi giáo, song song đó là khả năng không chối cãi được của al-Baghdadi trong quá trình đi tìm liên minh với các bộ lạc Ả Rập du cư (Bedouin) và với các phe phái hồi giáo cực đoan thánh chiến thuộc sắc tộc Sunni vốn đã hiện hữu ở Syria, ở Iraq, ở Lybia, trước khi ISIS được đẻ ra. Để bẻ gẩy các liên minh kể trên chẳng cần phải có những cuộc can thiệp không quân mà Hollande và Cameron đang hò hét cổ võ, và cũng bị chính Ý và Đức phản đối. Ngược lại cần phải có những chiến lược để thuyết phục được các sắc tộc Sunni ở Syria và Iraq – và để bảo đảm – rằng vai trò của Sunni sẽ được công nhận và có trọng lượng trong khu vực Trung Đông trong các thế cờ cân bằng lực lượng mới. Tức là không phải chống lại mà là cùng hợp tác với sắc tộc Shia. Chỉ có một chính sách chính trị mang tầm vóc chiến lược mới làm được điều này.

Đã đến lúc cần phải đẻ ra một  cuộc hiệp thương kiểu Yalta cho khu vực Trung Đông: nó cho phép Mỹ và Châu Âu giải quyết một lần tận gốc rễ những “khúc mắc” đối với Nga. Về mặt chính trị mà nói không thể nào đòi hỏi Mosca phải “tích cực” ủng hộ các hoạt động nhằm tạo ổn định cho khu vực Trung Đông trong khi cùng lúc Mỹ và Châu Âu lớn tiếng đòi trừng phạt Nga vì các hoạt động can thiệp ở mặt trận Ucraine.

Chính trị không có nghĩa là phải chối từ trách nhiệm, ngược lại, chính trị đòi hỏi cần phải biết lấy trách nhiệm một cách toàn vẹn, điều này đôi khi cũng có thể bắt buộc phải áp dụng các biện pháp quân sự, nhưng quân sự không bao giờ có thể được xem như là mục tiêu của chính trị: hễ ở đâu chỉ có mỗi biện pháp quân sự không có mục tiêu chính trị đi kèm, thì ở đó chỉ có tang thương, đổ nát, và nhà nước suy vong (lời bình của người dịch: kinh nghiệm của cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là một bằng chứng không chối cãi được).

Trong tình hình đầy biến động hiện nay ở Trung Đông, cần phải xem coi Mỹ, Nga, Châu Âu và cả Trung Quốc (vốn đang thâm nhập một cách im lặng nhưng rất quyết liệt vào Châu Phi) có khả năng “nặn” ra một “partnership” mới để bảo đảm an ninh trong khu vực hay không ? Vì chỉ có như thế thì các cường quốc mới đủ sức thuyết phục được các chính phủ của các quốc gia trong khu vực, từ Ankara đến Ả Rập Saudit, từ Ai Cập đến Israel, từ Iraq đến Iran, từ Syria đến Lybia, rằng: nếu không có một Yalta trong thiên niên kỷ mới này thì chẳng chính phủ nào có được chổ đứng ổn định, nói chi đến việc vẽ vời quyền lực trong khu vực. Riêng Ý thì từ lâu nay vẫn chọn phương hướng giải pháp ngoại giao: đấy là một điểm mạnh chứ không hề là một nhược điểm như nhiều người lầm tưởng. Nhưng vấn đề của biện pháp ngoại giao là các quốc gia Châu Âu phải cùng đồng hành đi chung với nhau thay vì kiểu ông nói gà bà nói vịt như hiện nay. Cần phải ý thức được rằng cái trật tự cũ có từ thế kỷ trước đã bị sụp ngã từ lâu rồi (nhất là từ sau khi chiến tranh lạnh chấm dứt): các quốc gia, các chế độ do các cường quốc thời thực dân (Pháp và Anh đứng đầu) vẽ ra đã không còn đứng vững. Các cường quốc hậu hiện đại phải làm một bước nhảy vọt tương xứng vai trò cường quốc, khép lại một lần tất cả những vết thương của quá khứ. Việc các nước Tây phương, bốn năm về trước, đã từ chối ủng hộ dân tộc Syria trong cao trào của “mùa xuân Ả Rập” là một sai lầm, những người dân Ả Rập xuống đường là để đòi hỏi tự do dân chủ chứ nào phải để ủng hộ cuộc thánh chiến Hồi giáo cực đoan đâu. Và đáp lại là chính phủ Assad đã đem quân đội và các nhóm vũ trang khủng bố thảm sát người dân từ đó đến nay. Cuộc thảm sát mà sau đó chính các lực lượng quân sự của các nhóm Hồi giáo cực đoan và nhà nước ISIS cũng “góp tay” vào. Nhìn nhận những sai lầm như thế không phải chỉ là đóng góp để nói lên sự thật, mà cũng để thấy rằng cuộc chiến hiện nay ở Syria không thể nào giải quyết bằng phương thức kiểu “có còn hơn không” (người Ý gọi là “male minore”), tức là không thể nào nghĩ rằng thà cứ giữ Assad lại trên ngôi … vì dẫu sao hắn cũng không khát máu như al-Baghdadi của ISIS.. Một phương thức kiểu đó không phải chỉ phạm lỗi bất công đối với hơn 300 ngàn người thiệt mạng (cho đến nay) ở Syria, mà còn tạo thuận lợi thêm cho chính Assad, bởi vì như thế cho phép Assad thủ vai “người gát cổng” cho cả Tây Phương để ngăn làn sóng ISIS.

Nếu nhìn cho kỹ thì sẽ nhận ra rằng một cuộc hiệp thương Yalta hậu hiện đại cũng có nghĩa là một trang sử mới trong quan hệ của Tây phương đối với Hồi giáo về khía cạnh chính trị, cũng như đối với thế giới Ả Rập, vốn đã từng được chính Obama nhiều lần kêu gọi … nhưng rồi cũng chỉ như là tiếng vang trên sa mạc. Obama một mình chắc chắn cũng không thể nào dập tắt được cơn hỏa hoạn đang có nguy cơ làm cháy toàn bộ khu vực Trung Đông.

12/09/2015
 chuyển ngữ



(*) Hội nghị Yalta 4-11/02/1945 tại cung điện Livadia, ở thành phố Yalta, miền nam Ucraine, với sự tham gia của 3 cường quốc thắng phát-xít hòi Đệ II thế chiến: Mỹ, Anh và Liên Xô, để giải quyết những bất đồng giữa 3 cường quóc này, với kết quả là vẽ ra một “trật tự” thế giới mới sau Đệ II thế chiến.

28 tháng 8, 2015

Cơn sóng thần đang nhấn chìm “người cầm lái vĩ đại hậu hiện đại” chung với quyền lực của Bắc Kinh


Đôi lời giới thiệu: sau bài phóng sự về những bạo loạn xảy ra gần đây ở Thượng Hải, Thâm Quyến, đặc phái viên thường trú ở Bắc Kinh của nhật báo "la Repubblica", Giampaolo Visetti,  đã chuyển ngòi bút về thủ đô Bắc Kinh, nơi đang xẩy ra những đấu đá nội bộ khốc liệt trong Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Nguyên tác bài này có tên "Lo stunami travolge il "nuovo Mao" e il potere di Pechino", đăng trên "la Repubblica" ngày 27/08/2015



 
26/08/2015 – Bắc Kinh. “Mùa hè đỏ lửa” đang hăm he đốt cháy luôn cả mùa thu sắp tới. Nhng người Trung Quốc đang bị thất điên bát đảo vì sự sụp đổ thị trường chứng khoán kháo nhau rằng: “đây là sự trả thù của thị trường chống lại nhà nước !”. Trong khi các chính phủ trên thế giới thì đang lo báo động về một viễn ảnh “nỗi dậy của các thế lực Mao-ít chống lại phe yuppies cải cách”.

Kể từ thời Đặng Tiểu Bình thì đây là lần đầu tiên Trung Quốc bị rún động trước một cuộc đại khủng hoảng kinh tế, trong khi ngày qua ngày tình hình cứ càng thêm tồi tệ, thiếu điều như chỉ cần đi thêm một bước là toàn bộ leadership của Tập Cận Bình sẽ ra … tro bụi.

Thậm chí đến các biện pháp kiểm duyệt ngăn sông cấm chợ cũng không còn đủ sức trấn áp sự bất đồng chính kiến hiện nay, không phải là bất đồng chính kiến về tư tưởng chính trị, mà là một sự bất đồng chính kiến vì … tiền bạc, trong đó thay vì giới sinh viên học sinh và trí thức xuống đường …. thì bây giờ là giới trung lưu (middle class) và các tỉ phú, một số lượng người khủng khiếp đã được đưa đi “nướng” trong lò “tư bản có định hướng” (capitalismo comunista). Cáo buộc tập thể của giới này chống lại lãnh đạo Đảng, một sự kiện “vô tiền khoáng hậu”, đang vượt qua khỏi các tường lửa trên Internet: “Xưa nay chúng tôi đã nhất nhất tuân thủ mệnh lệnh của các ngài, nhưng các ngài đã phản bội và thậm chí bán đứng chúng tôi”. Bởi vì cho đến hồi tháng 6 đây thôi, lãnh đạo Trung Quốc vẫn còn kêu gọi mọi người mua cổ phiếu, bán nhà cả ruộng vườn hay vay nợ để nhào vô nằm trong quả bong bóng thị trường có định hướng của nhà nước, vốn được thổi phình ra với tốc độ 150% mỗi năm. Để rồi bây giờ chính các lãnh đạo ấy lại câm như hến, thậm chí còn ra lệnh kiểm duyệt thông tin và đàn áp những cuộc chống đối, hay đã ngụy tạo các con số thống kê, chậm trễ một cách không thể tha thứ trong việc đưa ra quyết định để đối đầu quả bóng xì hơi.

Cứ như là sự tàn lụi của một thời phát triển hoành tráng đang đập chết ngay chính con rồng Châu Á. Tình hình khẩn cấp về kinh tế ngày thêm trầm trọng ở Bắc Kinh, nhưng tệ hơn nữa là con vi khuẩn đang ăn sâu ngay trong trái tim của Đảng-Nhà nước. Chỉ trong một vài tuần thôi mà sự đồng thuận của quần chúng dành cho Chủ tịch Tập Cận Bình và cho Thủ tướng Lý Khắc Cường, vốn được xây dựng qua những cuộc thanh trừng mang màu sắc chống tham nhũng, hoặc bằng những hứa hẹn cải cách, và nhất là bằng quả bong bóng thị trường chứng khoán, đã biến thành tro bụi. Cả một chuỗi những sự kiện thê thảm: hồi tháng 6 thì cái “tát tai” trong vụ bầu cử ở Hồng Kông, đến tháng 7 thì thị trường bắt đầu suy sụp, rồi đến tháng 8 thị vụ nổ kho hoá chất ở Thiên Tân, rồi sau đó là thị trường chúng khoán hỗn loạn, và sau cùng là sự từ chối của các chính phủ Tây phương trước lời mời tham dự buổi diễn binh ngày 3 tháng 9 kỷ niệm 70 kết thúc cuộc chiến tranh chống Nhật Bản. Đây là lần đầu tiên mà trước mỗi sự kiện, nhà cầm quyền Bắc Kinh đã lộ vẻ lúng túng, không đủ sức phản ứng và lấy quyết định đối phó.

Theo các tin đồn “của giới thân cận” trong “cung điện” quyền lực, hay trong các văn phòng của các tập đoàn khổng lồ của nhà nước, thì đang có một cuộc “thanh toán đẫm máu giữa các phe phái trong Đảng”. Chả thế mà việc tuyên bố các thông số kinh tế của tháng 8 đã được quyết định dời trễ hơn với lý do là “bận rộn việc lo diễn binh”. Ngày tuyên bố những thông số mang tính “sống còn” của nền kinh tế toàn cầu đã được dời đến giữa thời gian từ 10 đến 13 tháng 9 để lo chuẩn bị cho 12 ngàn lính sẽ diễn binh ngày 3 tháng 9 ở quảng trường Thiên An Môn. Toàn bộ lãnh đạo cao cấp của 3 tập đoàn viễn thông sẽ bị “san bằng”, trong khi một cuộc điều tra về các hoạt động “kinh doanh trái phép” đang ập lên đầu của 5 cơ sở chuyên về môi giới tài chính. Thống đốc ngân hàng trung ương Chu Tiểu Xuyên (Zhou Xiaochuan), vồn được coi là tay chân thân tín của cựu Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, đã bắt buộc phải bơm 21,8 tỉ đô-la để thu mua các cổ phiếu ngắn và cực ngắn hạn để “hạ hoả” thị trường tài chính. Tờ “Nhật báo Nhân Dân” (báo Đảng) được lệnh không được phát tán những thông tin “nhằm khích động mối bi quan và lo âu”, và loan tin “sẽ nhanh chóng có nhng biện pháp vừa nhanh vừa quyết liệt để nhằm sửa chửa những sai lầm trong kế hoạch năm năm.”

Diển nôm theo tự điển của Tử Cấm Thánh có nghĩa là cái ghế của Chu Tiểu Xuyên đang lung lay và Thủ tướng Lý Khắc Cường trong năm tới sẽ không được tái nhiệm. Đó là hai nhân vật “triều đình” sẽ được đưa ra, cùng với vài chục bộ trưởng và phó bộ trưởng “cải cách”, để trả giá hoá đơn của thị trường. Tuy nhiên cái bóng ma trong Tử Cấm Thành vẫn còn lởn vởn trên đầu của “người cầm lái vĩ đại thời hậu hiện đại”. Hàng ngàn quan chức cao cấp và tướng tá trong quân đội đã bị bắt trong các chiến dịch bài trừ tham nhũng vừa qua, rồi những phe phái “tả” trong Đảng vốn đã bị hất cẳng, những Thống đốc đang bị áp lực của khối nợ công đè nặng, tất cả những người đó đang chực chờ một bước sơ hở của Tập Cận Bình vốn đã bị cáo buộc là đã “làm nhục Đảng”.

Ở Bắc Kinh người ta đồn rằng đang có một liên minh giữa hai phe “cựu”: phe của hai cựu chủ tịch Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào với sự hỗ trợ của cựu Thủ Tướng Ôn Gia Bảo, vốn được xem như là những đối tượng của những cuộc thanh trừng sắp tới của đương kim Chủ tịch Tập. Chả thế mà các cuộc bạo loạn trong mấy hôm nay xảy ra ngay đúng ở Thượng Hải, vốn là thành trì của phe Giang Trạch Dân. Quả bom mà phe “hoài cổ” (bảo thủ) đang chuẩn bị cho nỗ để chống lại Tập Cận Bình chính là những thông số phản ảnh đúng tình trạng thực tế của nền kinh tế Trung Quốc: mức độ phát triển GDP sẽ không phải là 7% (như chính phủ tuyên truyền) mà dưới 5%, nợ nhà nước sẽ phồng lên hơn 300% GDP, tức là hơn 3 ngàn tỉ đô-la, phân na đã bị bốc hơi theo các bong bóng bất động sản, còn  nửa kia thì do chính các ngân hàng “chui” đẻ ra. Sự hoảng loạn bán tháo bán đỗ các cổ phần trên thị trường chứng khoán Trung Quốc đã thể hiện rõ hơn cả những chỉ số thị trường; Thượng Hải, Thâm Quyến, Hồng Kông tất cả đang rún động, nhưng địa bàn rún động nhiều nhất hiện nay chính là Bắc Kinh, ở đó đang có khả năng nổ ra xì-căn-đan về những “dối trá” của Chủ tịch.

Đúng là chính thể độc tài toàn trị đỏ không chịu nỗi cú sốc đầu tiên của thị trường. Nhưng sau 3 thập niên phát triển tăng tốc, cuộc chạm trán khốc liệt và mang tính quyết định chính là cuộc chạm trán với “dân chủ”.

Tập Cận Bình thì đang cố gắng đấu tranh để được ghi tên vào lịch sử, trong khi Trung Quốc đang đấu tranh để không phải quay lùi về quá khứ.

Bấp bênh về kết của của cuộc chạm trán đã kìm hãm thị trường chứng khoáng ở Trung Quốc, trong khi toàn thế giới biết rằng … trong “câu chuyện Bắc Kinh” còn nhiều “ân oán giang hồ” cần phải được thanh toán.

28/05/2015

27 tháng 8, 2015

“Hãy hoàn tiền lại ngay đây”. Truy lùng yuppies (*) trên đường phố Thượng Hải. Tàn một giấc mơ.



Đôi lời giới thiệu: Trong khi các chuyên gia kinh tế tài chính, các tổ chức tư vấn “think tank”, các lãnh đạo chính trị, ở khắp nơi trên thế giới đang ào ào đưa ra các tư liệu kinh tế tài chính chính trị để giải thích hiện tượng “xì bóng” của thị trường chứng khoán ở Trung Quốc, và nhất là để trấn an công luận thế giới, về những khả năng hệ lụy, “truyền nhiễm” mà tình trạng khủng hoảng tài chính Trung Quốc có thể lây lan ra …. toàn cỏi bốn phương … thì ký giả Giampaolo Visetti, đặc phái viên thường trú của nhật báo “la Repubblica” ở Bắc Kinh đã có một bài phóng sự diễn tả những gì đang diễn ra trên đường phố ở những “đặc khu” văn phòng kinh tế tài chính cao cấp ở Trung Quốc … dưới một lăng kính rất đặc biệt.


Nguyên tác bài này có tên “Ridateci i soldi. Caccia agli yuppies in strada a Shangai. E’ la fine di un sogno” của đặc phái viên thường trú ở Bắc Kinh của nhật báo “la Repubblica” đăng ngày 26/08/2015

(*) Yuppies: Young Urban Professional ám chỉ giới trẻ thành thị có nghề nghiệp chuyên môn cao cấp lương bổng hậu hĩ



25/08/2015 – Bắc Kinh. Tạm biệt áo sơ mi trắng cà vạt cùng vét tông len đang chéo. Váy đầm bộ và giày cao gót cũng chớ nên mang vào người. Bây giờ ở Thượng Hải và Thâm Quyến đang có chiến dịch đi truy lùng những tay môi giới, kinh doanh mua bán tài chính, các quan chức ngân hàng. Ở khu phố cao cấp Phố Đông với những tòa nhà chọc trời thanh lịch bỗng dưng trên đường phố biến mất các dòng xe thể thao đời mới và các túi xách hàng hiệu sang trọng. Các nhà hàng cao cấp dành cho giới “sành thưởng thức” cũng đóng cửa, mấy cái tủ kiến trưng bày đồng hồ Thụy Sĩ cũng tắt ngấm đèn đóm.

Ở Trung Quốc, chỉ mới hai tháng trước đây thôi, làm việc trong các thị trường chứng khoán là biểu tượng cho sự thành công cá nhân, và cũng là bước đầu để hội nhập vào môi trường “dolce vita” theo phong cách Tây phương. Quy tắc ứng xử đầu tiên: phô trương tối đa những dư thừa thái quá, để chứng minh với bàn dân thiên hạ rằng “mình đã đến đích”.


Nhưng mấy hôm nay thì các “đồng chí kinh tế gia” đang lục lọi lôi ra từ trong tủ những cái quần jean cũ kỹ, dép xăn-đan và áo thung T-shirt để đi làm, và đi bằng xe điện ngầm, và vào văn phòng bằng ngỏ hậu. Đến giờ ăn thì ngồi nuốt mì gói như bao thanh niên nhập cư từ các làng quê lên thành phố làm nhân công lau chùi quét dọn văn phòng. Chỉ có cách đó, bằng không thì có khả năng là bị đám đông nhào vô đánh hội đồng, hay bị cảnh sát bắt.

Ở tại thủ đô tài chính Trung Quốc, những người dân đã bỏ tiền mua cổ phiếu đang giận dữ đập phá những cánh cửa bọc thép vốn để bảo vệ các quan chức của bốn ngân hàng. “Hãy hoàn trả lại ngay tiền của chúng tôi” đám đông hò hét như thế “Tụi mày dấu tiền ở đâu rồi ?”. Đó là những hình ảnh mà các mạng truyền thông nhà nước đã ngăn không cho lên mạng, và các ngân hàng, các cơ sở tài chính, các “lâu đài” chứng khoán, ngay cả ở Hồng Kông cũng thế, cũng đều im hơi lặng tiếng, và hiện này chính phủ Bắc Kinh đã đưa quân đội đến bảo vệ các khu vực này.

Đối với người dân Trung Quốc việc chỉ trong một ngày “sốt da vàng” mà thị trường chứng khoán đốt tiêu 5 ngàn tỉ đô-la, cháy hết tất cả những lời lãi tích lũy từ tháng giêng, là điều không thể chấp nhận được. Những người dân này, những người đã chắt chiu tiết kiệm từng đồng để mua cổ phiếu, đã viết lên tường của một ngân hàng ở Bắc Kinh: “Tiền bạc không thể nào biến mất như thế, phải tìm cho ra để hoàn trả lại cho nhân dân”.

Truyền hình nhà nước thì vẫn cứ lãi nhãi tuyên truyền  ca ngợi “khả năng chống đỡ và sức mạnh vô biên của nền kinh tế Trung Quốc, cho phép chúng ta duy trì một sự phát triển mạnh mẽ và ổn định”. Nhưng trong khi đó khoảng 9 triệu nhà “đầu tư” của một nền kinh tế thị trường có định hướng (capitalcomunista), vốn trong chỉ 8 tháng cuối cùng đã “phồng” lên thành 40 triệu, đang trực tiếp qua các smartphone chứng kiến những đồng vốn (mà đôi khi họ phải vay mượn) và những lời lãi của họ đang bốc hơi.

Đảng-Nhà nước cầm quyền thì đang ra sức trấn an, đồng thời ngăn cấm bán cổ phần với mục tiêu nhằm vớt vát một vài đồng xu trong gia sản bị đánh mất, các đồng chí từng vui chơi chứng khoán thì đang phải bán tháo bán đổ nhà cửa ruộng vườn vốn trước đây đã bị cầm thế chỉ vì bị ảo ảnh là mong “sẽ giàu trước khi già”.

Trước cuộc khủng hoảng trong thời thiên niên kỷ 2000, phản ứng của tờ “Nhật báo Nhân Dân”, tiếng nói của Bộ Chính trị, có hơi hướm như thời thanh trừng của những thập niên 60. Nào là tin quyết định huy động lực lượng công an cảnh sát của Thứ trưởng an ninh Meng Qifeng để chống lại “các ngân hàng mờ ám, các quan chức có vấn đề, các hoạt động tài chính bất hợp pháp !!!”. Và sau đó nhà nước đã hớn hở thông báo rằng “66 ngân hàng chui bị đóng cửa, bắt giam 160 người và tịch thu 67 tỉ đô-la”.

Tuy nhiên đây là lần đầu tiên chính quyền Bắc Kinh phải đối đầu với một số lượng người mà Bắc Kinh không thể nào “ngăn sông cấm chợ” mọi tin tức, đó là một phần sáu nhân mạng trên thế giới vốn đang thấp thỏm lo âu sẽ trắng tay. Lãnh đạo cộng sản Trung Quốc đang lo sợ một viễn tượng “cách mạng tư bản”.

Và đợi cho đến khi các thị trường chứng khoán ở Châu Á đóng cửa sau giờ làm việc, ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phải chấp nhận đánh cú mà một tay đại gia ở Quảng Đông đã nhận xét rằng đó là “bom nguyên tử cuối cùng của nhà nước để giải cứu tình hình”. Bởi vì sau “Black Monday”, tình hình thị trường chứng khoán lại rơi vào hoảng sợ. Thương Hải đóng cửa với chỉ số 2964,97, sụt khoảng 7,63%, tính ra là chỉ trong vòng 48 tiếng đồng hồ Thượng Hải sụt trên dưới 16,12%. Rồi đến Thâm Quyến, sụt trên dưới 7,99% kể từ đầu tuần. Hồng Kông thì đỡ bết bát hơn.

Đối với các nhà tỉ phú Á Đông, những nhân vật mới trên sân khấu “vàng son tiền bạc” của thế giới, thì đây là một khúc quanh lịch sử trong đó sẽ có những mất mát “bất hoàn” và tình hình sẽ không còn như trước.

Wang Jianlin, đại gia giàu nhất Trung Quốc và là chủ tịch của tập đoàn kinh doanh khổng lồ Wanda Group, chỉ trong vài giờ đã bị đốt khỏang 6,1 tỉ đô-la, kỷ lục thế giới, và gia tài sản nghiệp của ông ta “chỉ còn” trên dưới khoảng 30 tỉ đô-la mà thôi. Đối với hạng thường dân lao động, các bà nội trợ (những hạng người mà giới tài chính gọi là “piccoli risparmiatori / investitori” – những con kiến nhẫn nhục tha lâu (để mong có ngày) đầy tổ), đã bị nhiễm trùng bởi con “vi khuẩn thị trường” đang thấy tất cả dành dụm mồ hôi nước mắt của họ đang bốc hơi … thì chỉ còn có mỗi một niềm an ủi duy nhất còn lại: chỉ trong vòng 3 tháng đổ lại cái đám “thượng đế” mà ngày nào còn được đám đông vừa sùng bái (bên ngoài) vừa oán ghét (bên trong) … đã mất khoảng 1/5 gia sản của chúng: 97 tỉ đô-la từ hôm thứ sáu tuần qua, chỉ nội ngày 24 (black Monday) chúng bị đốt 14 tỉ, tương đương 1/6 của toàn bộ vốn đầu tư.

Đối với các “chủ nhân ông” của cái thể chế cộng sản có “thị trường định hướng” thì những thất thoát trong mấy ngày nay là … quá sức. Toàn bộ lỗ hổng của thị trường chứng khoán không phải chỉ làm nổ có mỗi cái “bong bóng” đầu cơ bất động sản, mà nó đang đe doạ lôi xuống vực thẩm cả toàn bộ nền kinh tế … và thậm chí đến cả sự “ổn định chính trị”, điều này khiến Ngân hàng trung ương Trung Quốc đã phải lấy một quyết định “chẳng đặng đừng”, đó là “cú đánh bom nguyên tử” như đã nói trên: giảm mức độ lãi xuất và giảm số lượng dự trữ bắt buộc cho các ngân hàng. Thống đốc Ngân hàng trung ương Chu Tiểu Xuyên (Zhou Xiaochuan), vốn được xem thuộc “phe” chống lại Tập Cận Bình, đã phải hạ 0,5% mức lãi suất, tức là lãi suất hiện nay còn 4,6% cho các khoản nợ và 1,75% đối với tiết kiệm bỏ ngân hàng. Và kể từ ngày 06/09 các dự trữ bắt buộc của các ngân hàng và các cơ sở kinh doanh tài chính cũng sẽ giảm được 0,5%. Quy ra tiền, quyết định trên tương đương khoảng 23,4 tỉ đô-la mà nhà nước Trung Quốc đổ ra để “hạ hoả” cùng với 17 tỉ tín dụng kể từ đầu tháng giêng năm nay.

Vấn đề là cả người dân Trung Quốc lẫn các lãnh đạo kinh tế tài chính và chính phủ trên thế giới đang tự hỏi: các đồ đệ của Đặng Tiểu Bình (Deng Xiaoping – cha đẻ của cuộc cách mạng kinh tế tài chính sang trang của Trung Quốc) đang “cỡi làn sóng khủng hoảng” … hay đã bị chính cuộc khủng hoảng kéo trôi ? … Hay nói bằng cách khác “Người cầm lái vĩ đại hậu hiện đại (Tập Cận Bình) vẫn còn trên lưng ngựa … hay đang bị chính vó ngựa dày xéo rồi ?

Các nước tư bản Tây Phương một sớm một chiều trở thành … “mồ côi”, mồ côi cái guồng máy tăng trưởng tăng tốc của Trung Quốc. Cái guồng máy mà trước đây đã cho phép hàng triệu người Trung Quốc tin rằng nghèo nàn, hy sinh, đói kém với một bát cơm hẩm mỗi ngày ... đã thực sự đi vào quá khứ một cách vĩnh viễn …

Điều làm rún động cả Trung Quóc là việc các tuyên bố tuyên truyền mấy hôm trước của Đảng đã bị quyết định của Ngân hàng trung ương  phủ nhận, một sự kiện “vô tiền khoáng hậu”, cứ như hiện hay có hai Trung Quốc đang âm thầm “cọ sát” nhau, chia rẽ nhau một cách “thê thảm” giữa phe “cộng sản hoài cổ” và phe “cải cách” vốn vẫn còn say mê một chủ nghĩa tư bản. Đối với phe thứ nhất thì (nền kinh tế Trung Quốc ) “… các nền móng cơ sở vẫn còn vững chãi và mức độ tiến triển vẫn ổn định, trên dưới 7%”. Nhưng Ngân hàng trung ương thì lại xác nhận ngược lại rằng “… vẫn còn có nhiều khả năng (khiến nền kinh tế) tiếp tục suy giảm” và nhất là “những biến động nhanh chóng của thị trường đòi hỏi cần phải có những biện pháp (công cụ) về chính sách tiền tệ linh hoạt hơn” và nhất là hiện nay “đang có sự thiếu hụt lượng tiền tệ giao dịch trên thị trường (liquidità)”

Xưa nay chưa bao giờ một cơ sở tài chính trung ương lại dám “tự mình” nhìn nhận một thực tế và chỉ trích thái độ bất động (bất lực) của giới lãnh đạo chính trị, và điều này lại càng cho người ta càng tin thêm vào những tin đồn gần đây về việc chính phủ đã nguỵ tạo những con số thống kê chính thức của nhà nước.

Phảng phất đâu đây mối đe doạ của một cú lộn mèo lịch sử có thể đưa Trung Quốc rời xa khỏi tiến trình phục hồi kinh tế toàn cầu, trước mắt là đang ngăn chận Thượng Hải, Thâm Quyến và Hồng Kông ngóc đầu lên, như đã đang xẩy ra ở các thị trường chứng khoán Tây phương và những khu vực khác ở Thái Bình Dương.

Quả bong bóng vĩ đại của nhà nước Trung Quốc vốn được thổi phồng bằng triệu triệu khoảng “nợ-mini” tư nhân nằm ngoài vòng kiểm soát của chính phủ, cộng thêm sự thất bại không vớt vát được của mô hình “made in China”, đã đẻ ra một “tiềm năng” có thể hũy diệt không phải chỉ mỗi sự đồng thuận của xã hội mà hũy diệt luôn cả cái ảo tưởng lấy lại được tiền của những giới đầu tư tư nhân cứng đầu không chịu nhìn nhận sự thật.

Thế là giữa các đường phố của những khu nhà chọc trời, biểu tượng của 3 thập niên “hoàn kim rực rỡ”, những tay cựu cách mạng Mao-ít đang truy lùng các tay môi giới tài chính giống như nhân vật giả tưởng Gordon Gekko trong phim “Wall Street” (1987) và phim “Wall Street: đồng tiền không bao giờ đi ngủ” (2010), nhưng tệ hại hơn là các tay “Mao-ít” này đang nhắm vào cái “Nhà nước đã đưa đẩy nhân dân làm mồi cho thị trường !!!” bằng cách thay thế ý thức hệ bằng …. lợi nhuận.

Tờ Nhật báo Nhân Dân (cơ quan ngôn luận của Đảng Cộng sản TQ) đã bóng gió rằng “… đây là một cuộc khủng hoảng hoàn hảo được dàn dựng chỉ đạo từ bên ngoài nhằm chận đứng sự trỗi dậy của Trung Quốc và tấn công lãnh đạo nhà nước”. Diễn nôm ra là thẳng tay chỉ mặt lên án “Tây Âu có mối quan tâm chính trị đặc biệt để kiềm chế ảnh hưởng của Bắc Kinh”.

Trong một cuộc chiến tranh thời hậu hiện đại, súng ống có thể được thay thế bằng tiền tệ, coi như đó là vũ khí “tân thời” trong các cuộc “chạm súng”. Một viễn ảnh Châu Á với Trung Quốc là tâm điểm đang có khả năng đánh mất cơ hội ngàn năm, và những người dân Trung Quốc, vốn đang mất tiền bạc gia sản, lại đang lo sợ trong tương lai sẽ có những bước đột phá … không phải để cải cách cái này cái nọ …. mà để trở lại … một xã hội “cảnh sát trị” của một thời xưa.

Và một câu hỏi lớn, một lựa chọn cần thiết, của đám đông Trung Quốc, vốn đang thất vọng về “thị trường”, đang nỗi lên phản đối “thị trường”, dành cho đảng Cộng sản ở Bắc Kinh, dành cho thị trường chứng khoán ở Thượng Hải và Hồng Kông, dành cho các chính phủ Châu Âu và Bắc Mỹ: trước tình hình hiện nay tốt hơn là vẫn tiếp tục giữ một Tập Cận Bình “khó lường” … hoặc đám hoài cổ đối lập Tập Cận Bình ? Giữa các tay môi giới tài chính và đám đông thợ thuyền, ai là người sẽ làm tăng trưởng nền kinh tế ?

Trước mắt là  “sơ mi cà vạt áo vét” cùng với “váy đầm giày cao gót” tạm thời lùi vào bóng tối. Nhưng cái đám đồ xanh thợ thuyền vốn đang bao vây những “cung điện" của đám trộm cướp nhà nước chỉ biết cúi đầu trước thị trường cũng thừa biết là cuộc khủng hoảng rồi cũng sẽ đẩy cả họ vào …. bảo tàng viện mà thôi.

Roma, 27/08/2015

3 tháng 7, 2015

Đàn bà thời hậu chiến, đàn bà thời hậu hiện đại !!!



Độ một tháng trước, khi các đám mây đen dự báo về Grexit, kịch bản nhà nước Hy Lạp vỡ nợ và “tận thế” của đồng Euro, đã bất thần ùn ùn kéo đến làm xám xịt cả bầu trời Châu Âu, Romano Prodi đã tuyên bố: “Bây giờ thì đã quá rõ ràng: Hy Lạp chẳng có tiền để trả nợ. Mà chuyện này thì ai cũng (đã) biết. 25% người Hy Lạp thất nghiệp, thu nhập lợi tức xuống dốc thê thảm hơn các dự đoán của các chuyên gia về chính sách thắt lưng buộc bụng. Hy Lạp không có “ngỏ thoát” xuyên qua xuất khẩu như trường hợp của Ý: xuất khẩu của cả Hy Lạp còn thấp hơn xuất khẩu của (một) vùng Reggio Emilia ở Ý; ngân sách Hy Lạp phần lớn dựa vào các dịch vụ của các cảng hàng hải, một vài hoạt động xây dựng các làng du lịch, chủ yếu vẫn dựa nhiều vào du khách. Chỉ cần thu nhập của toàn bộ xã hội xuống là cả nền kinh tế “chìm xuồng” (cái này cũng không phải chỉ riêng Hy Lạp. 




Nền kinh tế hậu hiện đại dựa trên tiêu dùng – tiêu dùng thực và tiêu dùng giả tạo – là thế: nếu xã hội không có sức mua thì cả nền kinh tế đi đời). Trong những tháng gần đây, các cuộc “đàm phán” giữa Hy Lạp với “bộ tam” (troika FMI, BCE và Ủy Ban Châu Âu) là cả một ván xì phé khổng lồ: bên nào cũng tính là đối phương sẽ nhân nhượng …. Giá như Đức (đầu tàu Châu Âu) đã thực sự muốn giải quyết vấn đề Hy Lạp ngay từ đầu … thì có lẽ mọi chuyện sẽ được dàn xếp với “kinh phí” khoảng 30-40 tỉ Euro. Còn bây giờ, để giải quyết chuyện Hy Lạp thì “kinh phí” sẽ gấp mười lần”

Bây giờ thì số phận người dân Hy Lạp như ngàn cân treo sợi tóc. Cũng bởi vì Madame Christine Lagarde, một chị phụ nữ có dáng rất “quyến rũ”, nhưng cũng rất “hữu khuynh”, lãnh đạo ngân hàng tài chính thế giới (FMI) duy nhất chuyên vận áo da cao cấp kiểu mấy tay đua xe gắn máy (kiểu Johnny Hallyday của điện ảnh Pháp vào những thập niên 60), chỉ muốn làm nhục tay Bộ trưởng kinh tế tài chính Hy Lạp Yanis Varoufakis, cũng là một tay chuyên vận áo da cao cấp đầy đinh sắt kiểu mấy tay đua xe gắn máy, chỉ vì tay này “tả khuynh”.

 Christine Lagarde

Kể cũng lạ: cả một hệ thống tiền tệ Châu Âu đang có nguy cơ sụp đỗ chỉ vì chuyện vỡ nợ to bằng … vài cái xe tải chở container chứa phô-mai parmigiano của vùng Reggio-Emilia của Ý …. Và giá như mấy năm trước FBI của Mỹ đừng để nổ ra vụ “xâm phạm tính dục” đã khiến Dominique Strauss Kahn bị loại ra khỏi “board” của FMI … thì chắc mụ Christine  Lagarde cũng chẳng được ngồi chiễm chệ tìm cách hạ nhục Yanis Varoufakis. Cái tay Dominique Strauss Kahn chắn hẳn là một “con heo”, một thứ “già không nên nết”, nhưng có điều hắn là Chủ tịch FMI đầu tiên “tả khuynh”, và hắn cũng đã có tính một kế hoạch để đưa Hy Lạp ra khỏi cơn khủng hoảng mà không cần hành hạ Hy Lạp như “bộ tam” đã làm mấy năm nay (và không có kết quả - kiểu thầy thuốc cứ cho uống trụ sinh ngày càng nhiều … mà cơ thể bệnh nhân đã đang kiệt sức).

Kể cũng lạ cái nền kinh tế toàn cầu hậu hiện đại. Lấy ví dụ trường hợp của Ý. Năm 2012 Ý cũng đang đứng trên bờ vực thẩm vỡ nợ như Hy Lạp hiện nay: tất cả các công trái phiếu nhà nước Ý đang trở thành giấy vụn …. Và đương kim Thủ tướng Ý lúc đó là lão Silvio Berlusconi thì lại chỉ cứ lo trả tiền luật sư và “mấy em” để giải quyết mấy chuyện xì-căn-đan “già chơi trống bỏi” thay vì lo tìm cách làm hạ hỏa chỉ số spread thời đó. Chuyên gia kỹ trị Mario Monti, một kiểu “Phù Đổng Thên Vương hậu hiện đại” đã leo lên ngựa sắt …. và giải quyết nhanh chóng khủng hoảng của Ý không cần phải tạo ra những bi kịch Hy Lạp … và cả “bộ tam” đều vỗ tay khen Phù Đổng Thiên Vương. Có điều là hôm nay cái cách giải quyết nhanh chóng của Phù Đổng Thiên Vương Mario Monti lại để lòi ra những hệ lụy: có hai bản tuyên án của Tòa án Tối Cao Hiến Pháp xử “vi hiến” hai đạo luật của chính phủ Mario Monti: luật ngăn chận lương hưu trí được tăng theo thời giá (indicizzazione) và các hợp đồng lao động của giới nhân viên nhà nước. Té ra chính mấy cụ già hưu trí và đám nhân viên nhà nước đã “xì ra” 50 tỉ Euro để “cứu” nước Ý ra khỏi vc thẩm vỡ nợ. Tương đương với khoảng bảy lần xuất khẩu của vùng Reggio-Emilia (hay của nền kinh tế xuất khẩu Hy Lạp). Dĩ nhiên những so sánh như trên rất khập khễnh, và chắc mấy chuyên gia kinh tế tài chính cũng bịt mũi thôi, nhưng những so sánh đó cho phép người ta thấy những cái “khập khễnh” của nền kinh tế tài chính thế giới hậu hiện đại … và nhất là những bất công của thế giới văn minh hiện đại hôm nay (với những tuyên bố nhân quyền hoành tráng). Một thế giới mà mụ Veronica Lario (chắc mọi người còn nhớ Veronica Lario chứ ? Vợ cũ của cái lão “già chơi trống bỏi”) sẽ đem về nhà trong vòng ba mưới năm tới gần 500 triệu Euro, tiền mà Silvio Berlusconi phải “bồi thường” cho mụ, tức là tương đương với khoảng phân nữa số tiền xiết nợ Hy Lạp của mụ Christine  Lagarde.

 Silvio Berlusconi và Veronica Lario

Người ta còn nhớ vào thời hậu chiến, đúng 70 năm trước, ngày 14/07/1945, những người công nhân phụ nữ ở Torino đã đình công và biểu tình chiếm trụ sở của “Unione Industriale” (tiền thân của Confindustria bây giờ) để đòi …. được hưởng lương ngang với các đồng nghiệp nam giới. Và họ cũng đã được điều kiện đó.


 Công nhân phụ nữ đình công biểu tình trước "Unione Industriale" ở Torino ngày 14/07/1945


70 năm trước. Đàn bà thời đó, khác với đàn bà bây giờ. Bây giờ chỉ cần kiếm đúng một tấm chồng … là coi như thu nhập, nếu muốn, có thể trang trải nợ nần cho cả nước Hy lạp.

Đó là đàn bà thời hậu chiến … Còn bây giờ là đàn bà thời hậu hiện đại.

Roma, 03/07/2015