13 tháng 3, 2016

Ngã ba đường của Angela: từ mẫu hay kế mẫu.



Nguyên tác bài này có tên “IL BIVIO DI ANGELA MAMMA O MATRIGNA” của ký giả lão thành Bernardo Valli (*) đăng trên nhật báo “la Repubbica” ngày 12/03/2016 - http://ricerca.repubblica.it/repubblica/archivio/repubblica/2016/03/12/il-bivio-di-angela-mamma-o-matrigna32.html?ref=search

Ở đời cũng lắm trớ trêu: thay vì phải nhìn vào sự bất tài vô tướng của các chính phủ Châu Âu trong việc đối phó với hàng loạt vấn đề khẩn cấp đang có khuynh hướng làm thay đổi những nét đặc thù của xã hội, thì thiên hạ lại quay sang chỉ trích những quyết định chính trị mang tính luân lý đạo đức của Angela Merkel (chú thích: quyết định mở cửa biên giới đón tiếp những thuyền nhân tị nạn từ cuộc chiến ở Siria). Ngài Thủ tướng Pháp, Manuel Valls, thì “lịch sự” hơn khi ở Munich ông ta đánh giá quyết định của bà Merkel mở cửa biên giới để đón nhận hàng triệu người tị nạn đến từ Trung Đông là … “ngây thơ khờ khạo”. Và những chỉ trích như thế cũng đã tuôn ra từ cửa miệng của Thủ tướng Hung Orban, người đầu tiên đã ra lệnh cho quân đội dùng hàng rào dây thép gai để “bảo vệ lãnh thổ”, và trên thực tế đã trở thành người đi tiên phong trong việc “ngăn sông cấm chợ” mà một số chính phủ khác ở Châu Âu cũng đã rục rịch làm theo. Nhưng điểm đáng chú ý là ngài Manuel  Valls này lại là người của đảng tả Xã Hội và cũng đã có thời lên tiếng chỉ trích lãnh đạo dân chủ thiên chúa giáo của một đảng trung hữu vốn vừa trung dung vừa bảo thủ về thái độ “yếu ớt” trước làn sóng người tị nạn đến từ những cuộc chiến tranh ở Siria và ở Iraq xin tị nạn ở Châu Âu.
Trước làn sóng thuyền nhân ồ ạt đang trở thành một cuộc khủng hoảng làm “run động” cả Châu Âu thì bà Thủ tướng Đức đã phản ứng theo đúng tinh thần của người con của một mục sư Tin Lành, một người đàn bà đã sinh ra và lớn lên ở phía Đông Đức cộng sản, nơi mà bà ta đã biết thế nào là hàng rào dây thép gai và đã từng phải chịu sự cấm đoán không được đi qua bên kia “bức tường”. Nói chung bà ta đã từng nếm mùi thế nào là tị nạn. Quyết định nhạy cảm của bà Merkel đã dấy lên một sự ngưỡng mộ nhưng cùng lúc cũng gây nên những phẩn nộ (trong công luận Đức). Vấn đề là theo thời gian xem ra thái độ phẩn nộ đang lấn áp sự ngưỡng mộ.
Hồi mùa hè năm ngoái (2015) khi Angela Merkel quyết định mở cửa biên giới thì hầu như các chính phủ Châu Âu đã bỏ bà ta “đơn thân độc mã”. Theo nhận xét của tay triết học Pháp Etiene Balibar thì ngay khi bà Merkel đơn phương lấy quyết định tạm ngưng áp dụng các điều luật ghi trong thỏa hiệp Dublino (thỏa hiệp về việc xin tị nạn theo đó chính phủ của những quốc gia nơi thuyền nhân cập bến phải có trách nhiệm xét đơn xin tị nạn, điều này trên thực tế có nghĩa là thuyền nhân không được rời khỏi lãnh thổ của quốc gia nơi họ cập bến, và trên thực tế cũng có nghĩa là dồn hết mọi trách nhiệm quản lý thuyền nhân lên các quốc gia ven vùng biển Địa Trung Hải như Ý, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha trong khi các quốc gia Trung Âu và Bắc Âu có thể “yên tâm” phủi tay) để Đức có thể tự do đón nhận những người tị nạn thì tất cả các chính phủ Châu Âu phải chọn lựa hoặc “sát cánh” với Merkel và huy động cả UE (có nghĩa là huy động trên dưới 500 triệu dân của một trong những khu vực giàu có nhất trên thế giới), hoặc đứng ra chống phá lại ý tưởng của Merkel. Sau một thời gian ngập ngừng mỡ chẳng ra mỡ thịt chẳng ra thịt một số quốc gia đã tuyên bố ủng hộ quyết định nói trên nhưng trên thực tế họ đã có những động thái chống phá, đôi khi những chống phá đó chỉ cần được thể hiện qua thái độ “án binh bất động”, trong khi một số chímh phủ khác thì thẳng thừng tuyên bố từ chối tham gia quyết định nhân đạo nói trên.
Người ta có thể cho rằng việc chạy theo những giá trị đạo đức nhân bản thay vì phải thực tế bám sát các trách nhiệm (chính trị) của chính phủ là một hành động ngây thơ không tưởng. Nhưng trong cuộc khủng hoảng về thuyền nhân tị nạn hôm nay thì các giá trị đạo đức nhân bản và các trách nhiệm của chính phủ cũng lẫn lộn với nhau, không dễ gì tách rời nó như phân biệt trắng với đen. Bởi vì đứng ra giải quyết một cách nhân đạo cuộc khủng hoảng thuyền nhân tị nạn cũng có nghĩa là đáp ứng lại các giá trị cơ bản của những người đã sáng lập ra Liên Hiệp Châu Âu. Và điều này có nghĩa là chấp nhận nhận lãnh các trách nhiệm chính trị của chính phủ, và cần phải được các chính phủ Châu Âu cùng chung nhau nhận lấy.
Người ta còn nhớ trong những năm tháng trước đây hình ảnh của Angela Merkel được tô vẽ một cách khác. Ở Atene (Hy Lạp), cũng như ở một số thủ đô khác ở Châu Âu, Merkel thường được vẽ châm biếm với hàng ria mép của Hitler hay đội nón đồng của thời đế chế Bismarck. Lúc ấy bà ta đang hô hào chính sách thắt lưng buộc bụng. Và bị công luận ghét bỏ, lên án một cách nặng nề không thương tiếc. Các chính sách khắc khe được khởi xướng từ một nước Đức được cai trị bởi một “mụ đàn bà” trong vai trò kế mẫu (dì ghẻ) đã khiến bao nhiều người dân Hy Lạp phải lâm vào cảnh màn trời chiếu đất và thậm chí còn có khuynh hướng xẻ đôi khối đồng Euro ra làm hai: một bên là các quốc gia “dài lưng tốn vãi” chung quanh bờ biển Địa Trung Hải (khối Nam Châu Âu), bên kia là các quốc gia xứng đáng được sử dụng đồng tiền Euro vốn thoát thai từ đồng Marc của Đức (khối Bắc Âu).

Một trong những biếm họa về Angela Merkel (ảnh từ Dagospia.com)


Giữa cái cơ chế chính trị Châu Âu vốn đang bị ít nhiều khủng hoảng, nay lại bị chia rẽ và hoàn toàn không có khả năng đối phó thảm kịch nhân đạo của những thuyền nhân đang ồ ạt đổ lên lục địa giàu có này, người ta có thể ít nhiều nhận dạng ra một Angela Merkel khác: một bà thủ tướng vô lương xảo quyệt, bậc thầy của trường phái đạo đức giả. Và quá trình “hạ bệ” Merkel cũng xảy ra khá nhanh chóng, và cũng mang hơi hướm như một sự “trả thù” của những ai vốn ích kỷ khi Merkel quyết định mở cửa biên giới vì lý do nhân đạo. Sau những năm dài dùng “bàn tay sắt” để khép Châu Âu vào các luật lệ khắt khe, sau những tháng đã cho phép hằng hà sa số người tị nạn tràn ngập “các nẻo đường” của người dân Châu Âu, bây giờ bà Merkel lại đang tìm cách phó thác cho chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ công tác ngăn chận làn sóng thuyền nhân đổ vào Châu Âu xuyên qua một cuộc “đàm phán” lạnh lùng với một chính phủ Hồi giáo – bảo thủ của Erdogan vốn bị tai tiếng khá nhiều về các hành động vi phạm dân chủ: có nghĩa là người Châu Âu sẽ không còn phải nghe tiếng than khóc cho những đứa trẻ bị chết đuối trên eo biển Egeo (giữa Thổ và Hy Lạp) hay trên biển Địa Trung Hải.
Theo dự kiến Thổ Nhĩ Kỳ sẽ được giao trọng trách làm “hàng rào bảo vệ” Châu Âu với cái giá (giá hiện thời) là 6 tỉ Euro và những lời hứa hẹn sẽ nhanh chóng cho Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập vào UE. Bị các chính phủ “đồng minh” Châu Âu bỏ rơi, Angela Merkel đang phải đối đầu đi tìm giải pháp hội nhập cho khoảng một triệu người tị nạn đang có mặt trên lãnh thổ Đức và đồng thời phải tìm cách để “hạ hỏa” những sự phản khán của công luận trong nước ngày một gia tăng, nhất là ngày chú nhật 13/03 sẽ có bầu cử hàng vùng (land) ở Đức nhưng lại có giá trị như là một cuộc thử nghiệm chính trị đối với phe đa số của chính phủ nói chung và đối với cá nhân Angela Merkel nói riêng (theo tin báo chí chiều nay 13/03 thì hai đảng CDU và SPD trong đa số chính phủ đã bị mất phiếu khá bộn và các lực lượng hữu khuynh bài ngoại đã chiếm được nhiều phiếu và hình như lực lượng nào cũng có hơn số phần trăm phiếu tối thiểu để vào hội đồng hàng vùng).
Tình hình đã “xoay chiều đổi hướng”: những ai đã chỉ trích Merkel về các hành động nhân đạo (ngây thơ) thì bây giờ cũng chính với chiêu bài nhân đạo đó họ lại lên án Merkel đang tìm cách “bán rẽ” Châu Âu cho “thằng Thổ” Erdogan, vốn là tay chính trị cầm quyền đang vi phạm tất cả các quyền tự do báo chí, đã ra tay thảm sát sắc dân Kurd và hiện giờ đang nhắm đến mục tiêu vào được UE. Thực ra thì các cuộc “đàm phán” với Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn đang trong vòng đàm phán, chưa có gì gọi là ngã ngũ, nhưng đạo diễn chính của màn kịch này (âm thầm) vẫn là Angela Merkel. Cũng chẳng cần phải hội kiến chi với Paris, một đầu mối khác trong “trục” franco-tedesco vốn hiện nay trong bối cảnh này chẳng có mấy ý nghĩa.
Kết luận là dù các bi kịch của Châu Âu vẫn còn lâu mới đi đến hồi kết cuộc, nhưng từ đầu đến cuối, trong mỗi màn kịch (từ kinh tế đến nhân đạo, từ chính trị đến ngoại giao ….) đạo diễn vẫn chính là … bà ta. Đánh giá Merkel như thế nào ? Quá nghiêm khắt ? Quá tình cảm ? Quá vô lương ? Quá tính toán ? Dù muốn dù không, nếu ở Châu Âu vẫn chưa có một chính trị gia nào có đủ trọng lượng để trở thành đối tác của Merkel trên sân khấu …. Thì bà ta vẫn sẽ phải một mình thủ hết tất cả các vai trong các bi kịch của Châu Âu.

Roma, 13/03/2016.
chuyển ngữ

Chú thích:
(*) Bernardo Valli là một trong những phóng viên kỳ cựu của Ý về các vấn đề quốc tế. 85 tuổi, ông là bậc thầy của các phóng viên chiến trường Ý nỗi tiếng ở Việt Nam như Tiziano Terzani, Oriana Fallaci, vì từ đầu những thập niên 70 Bernardo Valli đã có mặt ở miền Nam Việt Nam trong vai trò phóng viên chiến trường cho nhật báo “Corriere della Sera” để theo dõi cuộc chiến ở Việt Nam, có mặt ở Trung Quốc để theo dõi các biến chuyển chính trị dưới thời Mao, ở Campuchia để theo dõi những diễn biến phức tạp từ thời Lon Nol cho đến khi Khmer đỏ lên cầm quyền. Hiện nay ông chuyên về các vấn đề quốc tế trong địa bàn Châu Âu.

6 tháng 2, 2016

Dân cư mạng Trung Quốc bình chọn láng giềng



Hôm 18/01/2016 vừa qua tập san Limes (on line) đã đăng kết quả của một cuộc thăm do ý kiến của dân cư mạng Trung Quốc về vấn đề láng giềng.




Hồi tháng giêng vừa qua nhật báo Hoàn Cầu (Huanqiu) ở Trung Quốc đã làm một cuộc thăm do ý kiến với tựa đề “Bình chọn láng giềng” (Scegli i paesi vicini).

Đây là một cuộc thăm dò xuyên qua mạng internet và những người trả lời là dân cư mạng ở Trung Quốc (Chinese netizens). Kết quả của cuộc thăm dò đã đưa ra những kết quả đáng chú ý và để từ đó có thể triển khai một số nhận xét về địa chính trị trong khu vực. 

Theo ý kiến của dân cư mạng Trung Quốc thì người Trung Quốc rất muốn “đuổi đi xa” (allontanare) những quốc gia như Nhật, Việt Nam, Philippine và Bắc Hàn. Còn Thụy Điển là nước chiếm được nhiều “cảm tình”, trong khi người Trung Quốc có vẻ “không nóng không lạnh” (neutrale) với xứ Nga của Putin.


       Cuộc thăm do ý kiến bao gồm ba câu hỏi: 

  1. Bạn muốn các nước láng giềng phải như thế nào ?
  2. Giả sử như bạn là Đức Chúa Trời, bạn sẽ “đánh giá như thế nào” (organizzare – theo nghĩa chọn ai chê ai) các nước láng giềng (hiện nay) của Trung Quốc ?
  3. Giả sử như bạn là Đức Chúa Trời, bạn sẽ chọn những quốc gia nào (trên thế giới) để làm láng giềng của Trung Quốc ?

Con số người tham gia cuộc thăm do ý kiến nói trên là 200 ngàn người, và họ chỉ phải lựa chọn hàng loạt câu trả lời đã được đưa ra sẳn (kiểu lựa chọn như thi trắc nghiệm, chứ không phải kiểu tự mình đưa ra câu trả lời).

Về câu hỏi thứ nhất, phần đông của những người tham gia cuộc thăm dò (12.600 người) đã “trả lời” rằng họ muốn các nước làng giềng phải được “ổn định” (wending); thêm vào đó hơn 11 ngàn người cho rằng những nước láng giềng phải “hữu hảo với Trung Quốc” (amichevoli).

Về câu hỏi thứ hai, có khoảng 13 ngàn người xem Nhật là nước “cần phải đuổi đi xa” biên giới Trung Quốc (allontanare – nouzou). Cũng dễ hiểu, bởi vì quá khứ thù hằn lịch sử giữa Trung Quốc và Nhật và những tranh chấp chủ quyền của quần đảo Điếu Ngư (Senkaku/Diaoyu) trên vùng biển Nam Hải chắc chắn đã ảnh hưởng mạnh đến câu trả lời. Thậm chí hồi năm 2013 chính quyền Bắc Kinh đã tuyên bố “vùng phòng không định dạng” trên quần đảo này đã lấn áp lên vùng không phận của Nhật.

Trong danh sách các quốc gia cần phải được “lánh xa” còn có Philippe (hơn 11.670 bình chọn), Việt Nam (11.620), Bắc Hàn (Triều Tiên) (khoảng 11 ngàn), Ấn Độ (khoảng 10.400), Afghanistan (khoảng 8.500) và Indonesia (khoảng 8 ngàn).

Lý đo để người Trung Quốc bình chọn hai nước hàng đầu của danh sách nói trên là vấn đề tranh chấp vùng biển đảo ở Biển Nam Hải (hay Biển Đông theo cách nói của Việt Nam). Chính phủ Manila và Hà Nội là hai chính phủ cực lực phản đối chính sách xâm lấn biển đảo của Bắc Kinh vốn đòi chủ quyền đến 80% vùng biển của một khu vực giàu tài nguyên như dầu khí và cũng là một trong những điểm then chốt của các tuyến đường hàng hải dẫn đến Trung Quốc.

Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, Philippine, Mã Lai và Đài Loan tất cả đều đang xây dựng các đảo nhân tạo với mục đích quân sự ở trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng Trung Quốc là quốc gia đang có các hoạt động này mạnh nhất so với các nước khác.

Trong thời gian gần đây Philippine đã thành công trong việc lôi những tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra trước Tòa án quốc tế ở Aia (Hòa Lan). Mặt khác Manila cũng đã cũng cố quan hệ với Mỹ qua quyết định cho phép Mỹ có 8 căn cứ quân sự ở Philippine. Quyết định này nằm trong những thỏa hiệp về an ninh song phương và gần đây Toà án tối cao của Philippine đã tuyên bố hợp hiến thỏa hiệp ấy.

Điều đáng chú ý là Bắc Hàn (Triều Tiên) cũng “được” liệt kê vào danh sách nói trên (thậm chí đứng trên cả Ấn Độ). Trong thời gian gần đây quan hệ giữa hai nước trở nên xấu và vừa rồi chính phủ Bắc Kinh cũng tỏ vẻ "bất bình" về chuyện Bắc Hàn tiếp tục cho thử bom hạt nhân, vì chuyện này sẽ làm cho khu vực càng thêm mất ổn định. Nhưng mặt khác Bắc Hàn vẫn còn giữ vai trò địa chiến lược quan trọng của Trung Quốc. Trước nhất là Bắc Hàn vẫn còn là “trái độn” nằm giữa Trung Quốc và Nam Hàn vốn là đồng minh của Mỹ. Bắc Kinh thì vẫn muốn Pyongyang chỉ có thể đe dọa (Mỹ và đồng minh) nhưng không có khả năng thực hiện những đe dọa đó, điều này cho phép Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì được hiện trạng. Nhưng bây giờ xuyên qua cuộc thăm do ý kiến nói trên thì người ta mới khám phá ra rằng những người dân Trung Quốc (khác với lãnh đạo Trung Quốc) có cái nhìn ngày càng thêm tồi tệ đối với đồng minh Bắc Hàn bởi tính chất “không ổn định” của Pyongyang.

Còn đối với Ấn Độ thì thái độ kình chống của Trung Quốc cũng khá dễ hiểu bởi vì vị trí quá kề cận (sông liền sông núi liền núi), và nhất là vì những tham vọng khu vực mà cả hai nước đều có, song song đó cả hai nước thỉnh thoảng vẫn còn có những căng thẳng biên giới trên vùng Hy Mã Lạp Sơn.

 Bản đồ các quốc gia mà Trung Quốc muốn "đuổi đi xa"

Còn đối với Pakistan thì cũng chẳng có gì khó hiểu khi đa số người Trung Quốc cho quốc gia này vào hàng đầu của danh sách các nước “có thể tiếp tục ở lại vị trí láng giềng” (liuxia), lý do là Trung Quốc xem Islamabad là đồng minh trong sách lược chống lại Delhi (Ấn Độ).

Nga, đối tác hàng đầu của Trung Quốc trong chiến lược chống Mỹ, chỉ đứng hàng thứ mười một trong danh sách các nước “có thể tiếp tục ở lại vị trí láng giềng” vừa nói trên. Chẳng qua bởi vì nói cho cùng Nga cũng vẫn còn bị xem như là đối thủ chiến lược của Trung Quốc.
 
Còn riêng đối với Afghanistan thì cuộc thăm do ý kiến đưa kết quả tiêu cực phần nào cũng do tình trạng bất ổn chính trị và cũng bởi quốc gia này vẫn nằm trong “sổ đen” của các tổ chức khủng bố vốn vẫn có hiện diện trên lãnh thổ của Pakistan.

Các chuyên gia phân tích kết quả của cuộc trưng cầu dân ý thì cho rằng thái độ kình chống lại Indonesia là phần nào do những chính sách phân biệt đối xử và bạo lực mà người dân Trung Quốc phải hứng chịu ở Indonesia trong quá khứ.

Ngược lại có 9 nước mà người dân Trung Quốc muốn “trám” vào những chổ của những quốc gia láng giềng hiện nay mà Trung Quốc muốn “đuổi đi xa”: Thụy Điển (9 ngàn phiếu bình chọn), Tân Tây Lan, Đức, Maldive, Singapore, Na Uy và Thái Lan. Phần lớn là vì các quốc gia này cho phép có một cuộc sống kinh tế tốt và có quan hệ ngoại giao tốt với Bắc Kinh.

Điều đáng chú ý là Đài Loan không được liệt kê vào danh sách các quốc gia bình chọn bởi vì Bắc Kinh vẫn xem Đài Loan như là một đơn vị hành chánh thuộc về nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Bản đồ những quốc gia mà Trung Quốc muốn "trám" vào những chỗ láng giềng


Nhìn chung kết quả của cuộc thăm do ý kiến cho thấy là các quyết định bình chọn của dân cư mạng Trung Quốc không chỉ dựa trên mức độ ổn định của các quốc gia láng giềng, mà cũng tùy thuộc rất nhiều vào quan hệ địa chính trị của các quốc gia này đối với Trung Quốc.


Roma, 06/02/2016


6 tháng 1, 2016

Đầu năm Trung Quốc khai pháo !!!



(Viết dựa theo bài  “Pecchino il giorno dopo il lunedì” ngày 05/01/2016 của Federico Rampini (*), ký giả thường trú của nhật báo “la Repubblica” ở New York)


Y hệt như hồi tháng 8 vừa qua, trước sự tuột dốc của thị trường chứng khoán chính phủ Bắc Kinh vẫn phản ứng một cách máy móc theo đúng các bài bản kinh điển của một chế độ độc tài toàn trị: nhà nước can thiệp mạnh bạo bất kể quy luật thị trường bằng cách sử dụng công quỹ để mua cổ phiếu để hỗ trợ giá thị trường chứng khoán, song song đó chính phủ đã ra lệnh trừng phạt chống lại những ai đang đầu cơ chứng khoán (trong trường hợp này là những người đã rao bán cổ phiếu “ảo”, tức là họ bán cổ phiếu mà họ chưa có trong tay – một kiểu mượn đầu heo nấu cháo trong thời đại thị trường chứng khoán – với hy vọng là trong thời gian sắp tới, khi họ phải giao cổ phiếu đã bán thì họ sẽ mua cổ phiếu đó với giá thấp hơn so với giá mà họ đã rao bán). Trên thực tế chính phủ Bắc Kinh đã không đưa ra một đường lối nào để đối phó với “căn bệnh” của thị trường chứng khoán, mà chỉ là những chính sách kiểu làm giảm các triệu chứng. Điều này (một lần nữa) thể hiện rõ sự mâu thuẩn của Bắc Kinh: một mặt thì tuyên bố áp dụng nền kinh tế thị trường, nhưng mặt kia thì can thiệp thô bạo khi thị trường không đi đúng theo hướng đã định (định hướng). Điều này cực kỳ nguy hiểm vì mức độ tin cậy vào chính phủ gắn liền với chỉ số trồi sụt của thị trường chứng khoán, và những cổ đông (có đến hàng trăm triệu người Trung Quốc hiện nay đang “chơi” trên sàng chứng khoán của nhà nước) đều chỉ biết trong chờ vào những chính sách bảo vệ thị trường chứng khoán, thậm chí bảo vệ luôn cả những hoạt động đầu cơ chứng khoán của họ.

Tuy nhiên “ngày đen” (hôm thứ hai 04/01/2016) của thị trường chứng khoán Bắc Kinh có hai điểm mới so với lần xảy ra hồi mùa hè 2015.

Trước nhất là tình hình tuột dốc của thị trường chứng khoán đã diễn ra ngay trong lúc tình hình vùng Vịnh căng thẳng (chiến tranh ở Syria, nhà nước Hồi Giáo, căng thẳng giữa Ả Rập Saudi và Iran ….) trong khi nền kinh tế sản xuất của Trung Quốc và Nhật đều vẫn còn phải tùy thuộc vào dầu hỏa Trung Đông (Mỹ đã từ mấy năm nay không còn nhập một hạt dầu nào từ Trung Đông, kể từ khi Mỹ đả phát triển phương thức khai thác dầu hỏa bằng biện pháp fracking (shale oil - dầu đá phiến)). 

Thứ hai là Mỹ đang thay đổi chính sách tiền tệ với việc Ngân hàng trung ương Mỹ đã tuyên bố nâng giá lãi xuất. 

Và trong tình hình đó, Châu Âu vẫn tiếp tục “dậm chân tại chỗ”: từ BCE cho đến các chính sách ngân sách của các chính phủ Châu Âu … đều vẫn chưa có một kế hoạch nào … dù rằng ai cũng biết là năm 2016 này (xem ra) sẽ vẫn còn nhiều sóng gió.

Trở lại chuyện Trung Quốc: kể từ hồi hè 2015 vừa qua, các nguồn vốn đầu tư vẫn tiếp tục tháo chạy ra khỏi Trung Quốc, dù rằng chính phủ Bắc Kinh đã can thiệp để chận đứng một cách giả tạo sự tuột dốc của sàn chứng khoán bằng cách ra lệnh huy động các ngân hàng nhà nước phải đứng ra thu mua các cổ trái phiếu. Việc phá giá đồng Nhân dân tệ (chủ yếu là để vực dậy ngành kinh tế xuất khẩu của Trung Quốc vốn đang bị thoái trào kể từ khi Tây Âu bị khủng hoảng kinh tê tài chính từ năm 2008) cũng không giúp được bao nhiêu trong quá trình chận đứng vốn đầu tư đào tẩu, ngược lại, quyết định giảm tỷ hối đồng Nhân dân tệ lại càng thúc đẩy vốn tư bản của Trung Quốc nhảy sang đồng đô-la Mỹ. Thậm chí sự “thành công” của Tập Cận Bình trong việc thuyết phục được Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (FMI) cho ghi đồng Nhân dân tệ vào danh sách các đơn vị tiền tệ có khả năng “hoán chuyển” (convertibili), tức là có vị thế “ngang hàng” với đồng đô-la và Euro, cũng đã gián tiếp “giải phóng” các vốn đầu tư của Trung Quốc theo nghĩa là người Trung Quốc có tiền sẽ nhân cơ hội này đưa đồng vốn của mình ra đầu tư ở nước ngoài (chính sách thu mua các cơ sở sản xuất kinh tế của các nước Tây phương chẳng hạn).

Nhà nước Trung Quốc cũng chỉ mới vừa bắt đầu bước vào một giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế rất quan trọng: không còn dựa vào các nền công nghệ nặng (gang, thép …) và giá lao động rẽ mà hướng về một nền kinh tế “bền vững” (sostenibile), chú ý nhiều hơn về vấn đề ô nhiễm môi trường, giảm sử dụng năng lượng ô nhiểm và phát triển các nguồn năng lượng sạch. Trước mắt thì hiện nay bước chuyển đổi quan trọng nói trên chỉ tạo ra các “nhược điểm”: xuất khẩu giảm sút, mức độ tăng trưởng kinh tế giảm sút … Nhưng thực ra thì Tập Cận Bình nhắm đến đường dài và nuôi nhiều tham vọng trong đó muốn đẩy Trung Quốc lên thành đối thủ chiến lược trong việc tranh giành ngôi bá chủ với Mỹ. Do đó cũng phải hiểu là quyết định đưa đồng Nhân dân tệ lên hàng top của danh sách tiền tệ thế giới cũng có cái giá mà Trung Quốc phải trả, trong đó có cả hiện tượng “chảy máu vốn”.

Trước mắt thì sự kiện khủng hoảng thị trường chứng khoán Bắc Kinh lần này là do sự căn thẳng mấy hôm nay giữa Iran và Ả Rập Saudi. Trong kịch bản tồi tệ nhất mà Bắc Kinh và Tokyo dự trù là có thể xảy ra “chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ IV”, sau những cuộc chiến Iran-Iraq (1980-1988), đến việc đổ quân Mỹ vào Iran thời Bush cha (1991) và thời Bush con (2003).

Dù rằng hiện nay Trung Đông đã không còn giữ được vị trí trung tâm huyết mạch về năng lượng trên thế giới (một phần là Mỹ và các nước Bắc Âu đã độc lập được dầu khí, thêm đó có sự xuất hiện của Nga như nhà cung cấp năng lượng, rồi đến việc thế giới gia tăng ý thức về ô nhiễm môi trường và thúc đẩy việc phát triển các năng lượng sạch và tái tạo), tuy nhiên Trung Đông vẫn còn đóng vai trò cung cấp năng lượng chủ yếu cho Trung Quốc và các quốc gia chung quanh. Và tay “sen đầm thế giới” duy nhất hiện nay ở trong Vùng Vịnh vẫn là Đệ Ngũ Hạm Đội của hải quân Mỹ vốn đang ngược xuôi kiểm soát các tuyến hàng hải trong vùng Vịnh Ba Tư, khu vực Vịnh Ả Rập, Ấn Độ Dương. Do đó điều trớ triêu là hiện nay sự an toàn dầu khí của Bắc Kinh lại nằm trong tay Mỹ, một thứ mâu thuẩn của thời “hậu hiện đại”: tất cả vẫn còn phải bám vào những gì còn sót lại của một leadership “đơn cực” (unipolare).

Thêm vào đó, bối cảnh “đơn cực” cũng khiến thế giới vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của Washington  về mặt chính sách tiền tệ: dù muốn dù không hiện nay đồng đô-la vẫn còn là nữ hoàng trên thị trường ngoại tệ thế giới. Do đó không nước nào có thể có được “miễn nhiễm” hoàn toàn mỗi khi chính sách tiền tệ của Mỹ “đổi nhịp”. Sau 7 năm áp dụng lãi xuất zero, hồi cuối năm 2015 vừa rồi Cục Dự trử liên bang Hoa Kỳ (FED - thực chất là Ngân hàng Trung ương của Mỹ) đã quyết định “xoay chiều” nâng lãi xuất lên thành 0,25%. Và điều này có nghĩa là lần lần các trái phiếu tín dụng bằng đồng đô-la sẽ tăng lợi tức. Trong mấy năm qua FED đã in ra 4 ngàn tỉ đô-la để mua trái phiếu và như thế đã đỗ tiền tràn ngập thế giới để vượt qua cơn khủng hoảng hồi 2008. Và kể từ cuối năm 2015, Mỹ tuyên bố “hoàn thành nhiệm vụ” (mission accomplished), và điều này có nghĩa là … thủy triều sẽ xuống: các nguồn vốn, đầu tiên là của các nước đang vươn lên, sẽ chạy tháo sang Mỹ.

Còn khu vực đồng Euro ? Cũng như bao lần khác, Châu Âu vẫn ở thế bị động. Vì chạy theo chính sách thắt lưng buộc bụng của Đức mà BCE của Draghi đã phải ngồi đợi đến 5 năm mới bắt đầu áp dụng được chính sách bơm tiền như ở Mỹ. Ảnh hưởng tích cực của chính sách hạ giá đồng Euro cũng chỉ mới mong manh hiện ra. Nhưng các mầm mống phát triển vẫn còn khá yếu ớt, các thông số tăng trưởng vẫn còn khiêm nhường, thất nghiệp vẫn còn cao. Và chính sách thắt lưng buộc bụng vẫn còn có những tác động kiềm chế: nếu một bên là chính sách bơm tiền của BCE đang nhấn ga xe, thì bên kia các kế hoạch ngân sách kiểm soát tránh bội chi … lại đang đạp thắng xe. 

Cái khổ là trong khi Châu Âu chỉ mới vừa ngóc đầu lên được trong tình cảnh nữa phát triển nữa dậm chân … thì xảy ra những cú xốc “ngoại vi” ở Trung Đông, ở Trung Quốc, ở Mỹ. Từ bao năm nay Châu Âu đang phải hứng chịu cảnh theo đuôi các chính sách của kẻ khác: Nga thì “quậy” ở Crimea và Ukraine, Syria và cái Nhà nước Hồi giáo đang làm điêu đứng Châu Âu với làn sóng thuyền nhân, rồi đến các vụ khủng bố gần đây. Bây giờ giữa những phong ba bão táp đến từ Trung Quốc và FED … điều đáng lo là Châu Âu rồi lại sẽ tiếp tục … theo đuôi thời sự.

Roma, 05/01/2016




(*) Trước khi sang New York, Federico Rampini cũng đã từng làm ký giả thường trú của "la Repubblica" ở Bắc Kinh.