6 tháng 2, 2016

Dân cư mạng Trung Quốc bình chọn láng giềng



Hôm 18/01/2016 vừa qua tập san Limes (on line) đã đăng kết quả của một cuộc thăm do ý kiến của dân cư mạng Trung Quốc về vấn đề láng giềng.




Hồi tháng giêng vừa qua nhật báo Hoàn Cầu (Huanqiu) ở Trung Quốc đã làm một cuộc thăm do ý kiến với tựa đề “Bình chọn láng giềng” (Scegli i paesi vicini).

Đây là một cuộc thăm dò xuyên qua mạng internet và những người trả lời là dân cư mạng ở Trung Quốc (Chinese netizens). Kết quả của cuộc thăm dò đã đưa ra những kết quả đáng chú ý và để từ đó có thể triển khai một số nhận xét về địa chính trị trong khu vực. 

Theo ý kiến của dân cư mạng Trung Quốc thì người Trung Quốc rất muốn “đuổi đi xa” (allontanare) những quốc gia như Nhật, Việt Nam, Philippine và Bắc Hàn. Còn Thụy Điển là nước chiếm được nhiều “cảm tình”, trong khi người Trung Quốc có vẻ “không nóng không lạnh” (neutrale) với xứ Nga của Putin.


       Cuộc thăm do ý kiến bao gồm ba câu hỏi: 

  1. Bạn muốn các nước láng giềng phải như thế nào ?
  2. Giả sử như bạn là Đức Chúa Trời, bạn sẽ “đánh giá như thế nào” (organizzare – theo nghĩa chọn ai chê ai) các nước láng giềng (hiện nay) của Trung Quốc ?
  3. Giả sử như bạn là Đức Chúa Trời, bạn sẽ chọn những quốc gia nào (trên thế giới) để làm láng giềng của Trung Quốc ?

Con số người tham gia cuộc thăm do ý kiến nói trên là 200 ngàn người, và họ chỉ phải lựa chọn hàng loạt câu trả lời đã được đưa ra sẳn (kiểu lựa chọn như thi trắc nghiệm, chứ không phải kiểu tự mình đưa ra câu trả lời).

Về câu hỏi thứ nhất, phần đông của những người tham gia cuộc thăm dò (12.600 người) đã “trả lời” rằng họ muốn các nước làng giềng phải được “ổn định” (wending); thêm vào đó hơn 11 ngàn người cho rằng những nước láng giềng phải “hữu hảo với Trung Quốc” (amichevoli).

Về câu hỏi thứ hai, có khoảng 13 ngàn người xem Nhật là nước “cần phải đuổi đi xa” biên giới Trung Quốc (allontanare – nouzou). Cũng dễ hiểu, bởi vì quá khứ thù hằn lịch sử giữa Trung Quốc và Nhật và những tranh chấp chủ quyền của quần đảo Điếu Ngư (Senkaku/Diaoyu) trên vùng biển Nam Hải chắc chắn đã ảnh hưởng mạnh đến câu trả lời. Thậm chí hồi năm 2013 chính quyền Bắc Kinh đã tuyên bố “vùng phòng không định dạng” trên quần đảo này đã lấn áp lên vùng không phận của Nhật.

Trong danh sách các quốc gia cần phải được “lánh xa” còn có Philippe (hơn 11.670 bình chọn), Việt Nam (11.620), Bắc Hàn (Triều Tiên) (khoảng 11 ngàn), Ấn Độ (khoảng 10.400), Afghanistan (khoảng 8.500) và Indonesia (khoảng 8 ngàn).

Lý đo để người Trung Quốc bình chọn hai nước hàng đầu của danh sách nói trên là vấn đề tranh chấp vùng biển đảo ở Biển Nam Hải (hay Biển Đông theo cách nói của Việt Nam). Chính phủ Manila và Hà Nội là hai chính phủ cực lực phản đối chính sách xâm lấn biển đảo của Bắc Kinh vốn đòi chủ quyền đến 80% vùng biển của một khu vực giàu tài nguyên như dầu khí và cũng là một trong những điểm then chốt của các tuyến đường hàng hải dẫn đến Trung Quốc.

Cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, Philippine, Mã Lai và Đài Loan tất cả đều đang xây dựng các đảo nhân tạo với mục đích quân sự ở trên các quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa, nhưng Trung Quốc là quốc gia đang có các hoạt động này mạnh nhất so với các nước khác.

Trong thời gian gần đây Philippine đã thành công trong việc lôi những tranh chấp biển đảo với Trung Quốc ra trước Tòa án quốc tế ở Aia (Hòa Lan). Mặt khác Manila cũng đã cũng cố quan hệ với Mỹ qua quyết định cho phép Mỹ có 8 căn cứ quân sự ở Philippine. Quyết định này nằm trong những thỏa hiệp về an ninh song phương và gần đây Toà án tối cao của Philippine đã tuyên bố hợp hiến thỏa hiệp ấy.

Điều đáng chú ý là Bắc Hàn (Triều Tiên) cũng “được” liệt kê vào danh sách nói trên (thậm chí đứng trên cả Ấn Độ). Trong thời gian gần đây quan hệ giữa hai nước trở nên xấu và vừa rồi chính phủ Bắc Kinh cũng tỏ vẻ "bất bình" về chuyện Bắc Hàn tiếp tục cho thử bom hạt nhân, vì chuyện này sẽ làm cho khu vực càng thêm mất ổn định. Nhưng mặt khác Bắc Hàn vẫn còn giữ vai trò địa chiến lược quan trọng của Trung Quốc. Trước nhất là Bắc Hàn vẫn còn là “trái độn” nằm giữa Trung Quốc và Nam Hàn vốn là đồng minh của Mỹ. Bắc Kinh thì vẫn muốn Pyongyang chỉ có thể đe dọa (Mỹ và đồng minh) nhưng không có khả năng thực hiện những đe dọa đó, điều này cho phép Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì được hiện trạng. Nhưng bây giờ xuyên qua cuộc thăm do ý kiến nói trên thì người ta mới khám phá ra rằng những người dân Trung Quốc (khác với lãnh đạo Trung Quốc) có cái nhìn ngày càng thêm tồi tệ đối với đồng minh Bắc Hàn bởi tính chất “không ổn định” của Pyongyang.

Còn đối với Ấn Độ thì thái độ kình chống của Trung Quốc cũng khá dễ hiểu bởi vì vị trí quá kề cận (sông liền sông núi liền núi), và nhất là vì những tham vọng khu vực mà cả hai nước đều có, song song đó cả hai nước thỉnh thoảng vẫn còn có những căng thẳng biên giới trên vùng Hy Mã Lạp Sơn.

 Bản đồ các quốc gia mà Trung Quốc muốn "đuổi đi xa"

Còn đối với Pakistan thì cũng chẳng có gì khó hiểu khi đa số người Trung Quốc cho quốc gia này vào hàng đầu của danh sách các nước “có thể tiếp tục ở lại vị trí láng giềng” (liuxia), lý do là Trung Quốc xem Islamabad là đồng minh trong sách lược chống lại Delhi (Ấn Độ).

Nga, đối tác hàng đầu của Trung Quốc trong chiến lược chống Mỹ, chỉ đứng hàng thứ mười một trong danh sách các nước “có thể tiếp tục ở lại vị trí láng giềng” vừa nói trên. Chẳng qua bởi vì nói cho cùng Nga cũng vẫn còn bị xem như là đối thủ chiến lược của Trung Quốc.
 
Còn riêng đối với Afghanistan thì cuộc thăm do ý kiến đưa kết quả tiêu cực phần nào cũng do tình trạng bất ổn chính trị và cũng bởi quốc gia này vẫn nằm trong “sổ đen” của các tổ chức khủng bố vốn vẫn có hiện diện trên lãnh thổ của Pakistan.

Các chuyên gia phân tích kết quả của cuộc trưng cầu dân ý thì cho rằng thái độ kình chống lại Indonesia là phần nào do những chính sách phân biệt đối xử và bạo lực mà người dân Trung Quốc phải hứng chịu ở Indonesia trong quá khứ.

Ngược lại có 9 nước mà người dân Trung Quốc muốn “trám” vào những chổ của những quốc gia láng giềng hiện nay mà Trung Quốc muốn “đuổi đi xa”: Thụy Điển (9 ngàn phiếu bình chọn), Tân Tây Lan, Đức, Maldive, Singapore, Na Uy và Thái Lan. Phần lớn là vì các quốc gia này cho phép có một cuộc sống kinh tế tốt và có quan hệ ngoại giao tốt với Bắc Kinh.

Điều đáng chú ý là Đài Loan không được liệt kê vào danh sách các quốc gia bình chọn bởi vì Bắc Kinh vẫn xem Đài Loan như là một đơn vị hành chánh thuộc về nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa.

Bản đồ những quốc gia mà Trung Quốc muốn "trám" vào những chỗ láng giềng


Nhìn chung kết quả của cuộc thăm do ý kiến cho thấy là các quyết định bình chọn của dân cư mạng Trung Quốc không chỉ dựa trên mức độ ổn định của các quốc gia láng giềng, mà cũng tùy thuộc rất nhiều vào quan hệ địa chính trị của các quốc gia này đối với Trung Quốc.


Roma, 06/02/2016


6 tháng 1, 2016

Đầu năm Trung Quốc khai pháo !!!



(Viết dựa theo bài  “Pecchino il giorno dopo il lunedì” ngày 05/01/2016 của Federico Rampini (*), ký giả thường trú của nhật báo “la Repubblica” ở New York)


Y hệt như hồi tháng 8 vừa qua, trước sự tuột dốc của thị trường chứng khoán chính phủ Bắc Kinh vẫn phản ứng một cách máy móc theo đúng các bài bản kinh điển của một chế độ độc tài toàn trị: nhà nước can thiệp mạnh bạo bất kể quy luật thị trường bằng cách sử dụng công quỹ để mua cổ phiếu để hỗ trợ giá thị trường chứng khoán, song song đó chính phủ đã ra lệnh trừng phạt chống lại những ai đang đầu cơ chứng khoán (trong trường hợp này là những người đã rao bán cổ phiếu “ảo”, tức là họ bán cổ phiếu mà họ chưa có trong tay – một kiểu mượn đầu heo nấu cháo trong thời đại thị trường chứng khoán – với hy vọng là trong thời gian sắp tới, khi họ phải giao cổ phiếu đã bán thì họ sẽ mua cổ phiếu đó với giá thấp hơn so với giá mà họ đã rao bán). Trên thực tế chính phủ Bắc Kinh đã không đưa ra một đường lối nào để đối phó với “căn bệnh” của thị trường chứng khoán, mà chỉ là những chính sách kiểu làm giảm các triệu chứng. Điều này (một lần nữa) thể hiện rõ sự mâu thuẩn của Bắc Kinh: một mặt thì tuyên bố áp dụng nền kinh tế thị trường, nhưng mặt kia thì can thiệp thô bạo khi thị trường không đi đúng theo hướng đã định (định hướng). Điều này cực kỳ nguy hiểm vì mức độ tin cậy vào chính phủ gắn liền với chỉ số trồi sụt của thị trường chứng khoán, và những cổ đông (có đến hàng trăm triệu người Trung Quốc hiện nay đang “chơi” trên sàng chứng khoán của nhà nước) đều chỉ biết trong chờ vào những chính sách bảo vệ thị trường chứng khoán, thậm chí bảo vệ luôn cả những hoạt động đầu cơ chứng khoán của họ.

Tuy nhiên “ngày đen” (hôm thứ hai 04/01/2016) của thị trường chứng khoán Bắc Kinh có hai điểm mới so với lần xảy ra hồi mùa hè 2015.

Trước nhất là tình hình tuột dốc của thị trường chứng khoán đã diễn ra ngay trong lúc tình hình vùng Vịnh căng thẳng (chiến tranh ở Syria, nhà nước Hồi Giáo, căng thẳng giữa Ả Rập Saudi và Iran ….) trong khi nền kinh tế sản xuất của Trung Quốc và Nhật đều vẫn còn phải tùy thuộc vào dầu hỏa Trung Đông (Mỹ đã từ mấy năm nay không còn nhập một hạt dầu nào từ Trung Đông, kể từ khi Mỹ đả phát triển phương thức khai thác dầu hỏa bằng biện pháp fracking (shale oil - dầu đá phiến)). 

Thứ hai là Mỹ đang thay đổi chính sách tiền tệ với việc Ngân hàng trung ương Mỹ đã tuyên bố nâng giá lãi xuất. 

Và trong tình hình đó, Châu Âu vẫn tiếp tục “dậm chân tại chỗ”: từ BCE cho đến các chính sách ngân sách của các chính phủ Châu Âu … đều vẫn chưa có một kế hoạch nào … dù rằng ai cũng biết là năm 2016 này (xem ra) sẽ vẫn còn nhiều sóng gió.

Trở lại chuyện Trung Quốc: kể từ hồi hè 2015 vừa qua, các nguồn vốn đầu tư vẫn tiếp tục tháo chạy ra khỏi Trung Quốc, dù rằng chính phủ Bắc Kinh đã can thiệp để chận đứng một cách giả tạo sự tuột dốc của sàn chứng khoán bằng cách ra lệnh huy động các ngân hàng nhà nước phải đứng ra thu mua các cổ trái phiếu. Việc phá giá đồng Nhân dân tệ (chủ yếu là để vực dậy ngành kinh tế xuất khẩu của Trung Quốc vốn đang bị thoái trào kể từ khi Tây Âu bị khủng hoảng kinh tê tài chính từ năm 2008) cũng không giúp được bao nhiêu trong quá trình chận đứng vốn đầu tư đào tẩu, ngược lại, quyết định giảm tỷ hối đồng Nhân dân tệ lại càng thúc đẩy vốn tư bản của Trung Quốc nhảy sang đồng đô-la Mỹ. Thậm chí sự “thành công” của Tập Cận Bình trong việc thuyết phục được Quỷ Tiền Tệ Quốc Tế (FMI) cho ghi đồng Nhân dân tệ vào danh sách các đơn vị tiền tệ có khả năng “hoán chuyển” (convertibili), tức là có vị thế “ngang hàng” với đồng đô-la và Euro, cũng đã gián tiếp “giải phóng” các vốn đầu tư của Trung Quốc theo nghĩa là người Trung Quốc có tiền sẽ nhân cơ hội này đưa đồng vốn của mình ra đầu tư ở nước ngoài (chính sách thu mua các cơ sở sản xuất kinh tế của các nước Tây phương chẳng hạn).

Nhà nước Trung Quốc cũng chỉ mới vừa bắt đầu bước vào một giai đoạn chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế rất quan trọng: không còn dựa vào các nền công nghệ nặng (gang, thép …) và giá lao động rẽ mà hướng về một nền kinh tế “bền vững” (sostenibile), chú ý nhiều hơn về vấn đề ô nhiễm môi trường, giảm sử dụng năng lượng ô nhiểm và phát triển các nguồn năng lượng sạch. Trước mắt thì hiện nay bước chuyển đổi quan trọng nói trên chỉ tạo ra các “nhược điểm”: xuất khẩu giảm sút, mức độ tăng trưởng kinh tế giảm sút … Nhưng thực ra thì Tập Cận Bình nhắm đến đường dài và nuôi nhiều tham vọng trong đó muốn đẩy Trung Quốc lên thành đối thủ chiến lược trong việc tranh giành ngôi bá chủ với Mỹ. Do đó cũng phải hiểu là quyết định đưa đồng Nhân dân tệ lên hàng top của danh sách tiền tệ thế giới cũng có cái giá mà Trung Quốc phải trả, trong đó có cả hiện tượng “chảy máu vốn”.

Trước mắt thì sự kiện khủng hoảng thị trường chứng khoán Bắc Kinh lần này là do sự căn thẳng mấy hôm nay giữa Iran và Ả Rập Saudi. Trong kịch bản tồi tệ nhất mà Bắc Kinh và Tokyo dự trù là có thể xảy ra “chiến tranh Vùng Vịnh lần thứ IV”, sau những cuộc chiến Iran-Iraq (1980-1988), đến việc đổ quân Mỹ vào Iran thời Bush cha (1991) và thời Bush con (2003).

Dù rằng hiện nay Trung Đông đã không còn giữ được vị trí trung tâm huyết mạch về năng lượng trên thế giới (một phần là Mỹ và các nước Bắc Âu đã độc lập được dầu khí, thêm đó có sự xuất hiện của Nga như nhà cung cấp năng lượng, rồi đến việc thế giới gia tăng ý thức về ô nhiễm môi trường và thúc đẩy việc phát triển các năng lượng sạch và tái tạo), tuy nhiên Trung Đông vẫn còn đóng vai trò cung cấp năng lượng chủ yếu cho Trung Quốc và các quốc gia chung quanh. Và tay “sen đầm thế giới” duy nhất hiện nay ở trong Vùng Vịnh vẫn là Đệ Ngũ Hạm Đội của hải quân Mỹ vốn đang ngược xuôi kiểm soát các tuyến hàng hải trong vùng Vịnh Ba Tư, khu vực Vịnh Ả Rập, Ấn Độ Dương. Do đó điều trớ triêu là hiện nay sự an toàn dầu khí của Bắc Kinh lại nằm trong tay Mỹ, một thứ mâu thuẩn của thời “hậu hiện đại”: tất cả vẫn còn phải bám vào những gì còn sót lại của một leadership “đơn cực” (unipolare).

Thêm vào đó, bối cảnh “đơn cực” cũng khiến thế giới vẫn còn phải chịu ảnh hưởng của Washington  về mặt chính sách tiền tệ: dù muốn dù không hiện nay đồng đô-la vẫn còn là nữ hoàng trên thị trường ngoại tệ thế giới. Do đó không nước nào có thể có được “miễn nhiễm” hoàn toàn mỗi khi chính sách tiền tệ của Mỹ “đổi nhịp”. Sau 7 năm áp dụng lãi xuất zero, hồi cuối năm 2015 vừa rồi Cục Dự trử liên bang Hoa Kỳ (FED - thực chất là Ngân hàng Trung ương của Mỹ) đã quyết định “xoay chiều” nâng lãi xuất lên thành 0,25%. Và điều này có nghĩa là lần lần các trái phiếu tín dụng bằng đồng đô-la sẽ tăng lợi tức. Trong mấy năm qua FED đã in ra 4 ngàn tỉ đô-la để mua trái phiếu và như thế đã đỗ tiền tràn ngập thế giới để vượt qua cơn khủng hoảng hồi 2008. Và kể từ cuối năm 2015, Mỹ tuyên bố “hoàn thành nhiệm vụ” (mission accomplished), và điều này có nghĩa là … thủy triều sẽ xuống: các nguồn vốn, đầu tiên là của các nước đang vươn lên, sẽ chạy tháo sang Mỹ.

Còn khu vực đồng Euro ? Cũng như bao lần khác, Châu Âu vẫn ở thế bị động. Vì chạy theo chính sách thắt lưng buộc bụng của Đức mà BCE của Draghi đã phải ngồi đợi đến 5 năm mới bắt đầu áp dụng được chính sách bơm tiền như ở Mỹ. Ảnh hưởng tích cực của chính sách hạ giá đồng Euro cũng chỉ mới mong manh hiện ra. Nhưng các mầm mống phát triển vẫn còn khá yếu ớt, các thông số tăng trưởng vẫn còn khiêm nhường, thất nghiệp vẫn còn cao. Và chính sách thắt lưng buộc bụng vẫn còn có những tác động kiềm chế: nếu một bên là chính sách bơm tiền của BCE đang nhấn ga xe, thì bên kia các kế hoạch ngân sách kiểm soát tránh bội chi … lại đang đạp thắng xe. 

Cái khổ là trong khi Châu Âu chỉ mới vừa ngóc đầu lên được trong tình cảnh nữa phát triển nữa dậm chân … thì xảy ra những cú xốc “ngoại vi” ở Trung Đông, ở Trung Quốc, ở Mỹ. Từ bao năm nay Châu Âu đang phải hứng chịu cảnh theo đuôi các chính sách của kẻ khác: Nga thì “quậy” ở Crimea và Ukraine, Syria và cái Nhà nước Hồi giáo đang làm điêu đứng Châu Âu với làn sóng thuyền nhân, rồi đến các vụ khủng bố gần đây. Bây giờ giữa những phong ba bão táp đến từ Trung Quốc và FED … điều đáng lo là Châu Âu rồi lại sẽ tiếp tục … theo đuôi thời sự.

Roma, 05/01/2016




(*) Trước khi sang New York, Federico Rampini cũng đã từng làm ký giả thường trú của "la Repubblica" ở Bắc Kinh.

30 tháng 11, 2015

Bộ tam Obama, Tập và Modi: vận mạng của quả địa cầu nằm trong tay của những tay gây ô nhiễm nhiều nhất trên thế giới.



Nguyên tác bài này có tên là “Obama, Xi e Modi: le sorti del pianeta nelle mani dei grandi inquinatori” của đặc phái viên Federico Rampini ở New York của nhật báo la Repubblica đăng ngày 30/11/2015.


Coi chừng ba tay đó. Hôm nay trong ngày khai mạc thượng đỉnh quốc tế về khí hậu COP21, ba “diễn viên” chính trên sân khấu là Mỹ, Trung Quốc và Ấn Độ với hai cuộc “gặp gỡ song phương”: cái thứ nhất là giữa Barack Obama với Tập Cận Bình, cái thứ hai là giữa Obama với Narendra Modi. Đó là những thành viên của một câu lạc bộ mới: “Câu lạc bộ của những tay gây ô nhiễm nhiều nhất trên địa cầu”. Tất cả những gì mà các tay này “nói chuyện” với nhau trong các cuộc gặp gỡ song phương sẽ là “cốt lõi” của cuộc họp thượng đỉnh lần này. Cuộc họp thượng đỉnh lần này coi như đã “xếp xó” các hiệp ước trước đây – vốn không mấy thành công – đã được ký ở Kyoto (1997) và ở Copenaghen (2009) theo đó thì các quốc gia chỉ bị ràng buộc về mặt “pháp lý” trong việc thải quá độ liều lượng thán khí CO2 so với các tiêu chuẩn mà cộng đồng quốc tế đã đặt ra. Quá khứ đã cho thấy là mục tiêu “pháp lý” nói trên đã không có tính khả thi. Chính vì thế mà bây giờ người ta đặt trọng tâm vào “quyết tâm chính trị”, xem đó như là phương hướng có tính chiến lược mà mỗi siêu cường sẽ phải quyết định áp dụng.


Barack Obama: Mỹ gây ô nhiễm ít hơn Trung Quốc, nhưng bình quân đầu người thì dân Mỹ vẫn còn là vô địch gây ô nhiễm.

Tập Cận Bình: chuyển đổi nền kinh tế là vấn đề hàng đầu và Tập không cần phải đợi sự đồng thuận của xã hội Trung Quốc.

Nerandra Modi: rất nhiều nhà ở Ấn Độ vẫn chưa có điện, và năng lượng rẽ nhất đối với Ấn Độ vẫn là nhiệt điện than đá.


Tương lai của nhân loại, của sự sống còn của quả địa cầu, tất cả đều đang nằm trong tay của bộ tam Obama-Tập-Modi. Trung Quốc hiện đang bị xem như là “vô địch” trong việc thải thán khí, thậm chí qua mặt cả Mỹ kể từ năm 2008 lúc Mỹ đang bị “thoái trào” vì cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính khổng lồ lúc ấy. Ấn Độ thì “bám sát” Trung Quốc: theo các thống kê thì năm nay Ấn Độ đã qua mặt Trung Quốc về vận tốc tăng trưởng của GDP (tức là tỉ số phần trăm tăng GDP so với năm trước), và do đó mức độ tiêu thụ năng lượng của Ấn Độ cũng tăng theo. Trên thế giới, nếu không xếp toàn bộ Châu Âu như là một thực thể duy nhất thì Ấn Độ được xếp vào hàng thứ ba vô địch thải thán khí. Tuy nhiên, nói gì thì nói, Mỹ vẫn còn cầm cờ quán quân về tỉ số thán khí thải ra bình quân trên đầu người: một anh Mỹ mỗi năm thải ra lượng thán khí gấp ba lần so với một anh Trung Quốc và mười lần so với một anh Ấn Độ. Nhưng ở đây, cái lối tính toán đo lường như kể trên xem ra cũng đã quá … “lỗi thời”. Và do đó các đường lối chính trị dựa theo các tính toán ấy … cũng chẳng có một … hiệu quả nào cả. Vấn đề môi trường ô nhiễm là vấn đề chung của toàn quả địa cầu, của toàn nhân loại, nó ảnh hưởng đến các đại dương cũng như các vùng băng hà trên thế giới, nó tác động lên vấn đề nhiệt độ và bầu khí quyển, tức là toàn là những thứ … vượt ra ngoài khuông khổ biên giới quốc gia. Trong khi đó “người ta” vẫn cứ ngồi đo lường đong đếm CO2 dựa trên … địa bàn của từng nước. Chính đây là điểm bất cập làm cho mọi so sánh trở nên khập khiễng: 315 triệu dân Mỹ đòi “so bì” với 2 tỉ rưỡi người Trung Quốc và Ấn Độ cộng lại …

Và trong bối cảnh “so bì” kể trên thì Châu Âu … bị hất ra bên lề. Cái lục địa già nua cằn cỗi này “chỉ” thải ra có 9%  thán khí. Con số phần trăm này cũng có thể làm cho người Châu Âu có một cảm giác “bất lực”, không có “trọng lượng” … trên ván bài quốc tế. Nhưng thực ra cái phần trăm “khiêm tốn” nói trên của Châu cũng chỉ là thành quả một “nhận thức sai lệch” do những ảo ảnh của các lăng kính tạo ra. Bởi vì cái con số 9% “khiêm tốn” lượng thán khí thải ra … là do nền kinh tế của Châu Âu đang trong giai đoạn trì trệ khủng hoảng, tương tự cũng như chuyện số lượng thải thán khí của Trung Quốc “qua mặt” Mỹ … chỉ vì nền kinh tế Mỹ đang hồi gặp “nạn”. Một ngày nào đó khi nền kinh tế sản xuất của Châu Âu vượt qua được cơn khủng hoảng – điều mà các thanh niên trẻ đang thất nghiệp ở Châu Âu mong đợi – thì chắc con số phần trăm thán khí của Châu Âu thải ra sẽ không “khiêm nhường” như hiện nay. Một yếu tố khác cũng gây “ngộ nhận” về con số thải thán khí “khiêm tốn” của Châu Âu là quá trình “phi công nghiệp hoá” (deindustrializzazione). Từ lâu Châu Âu đã bắt đầu di dời một số dây chuyền sản xuất hàng hoá công nghiệp vốn “ngốn” nhiều năng lượng và do đó cũng thải ra nhiều thán khí làm ô nhiễm môi trường Châu Âu. Nhưng chỉ có điều là mỗi khi người tiêu dùng Châu Âu mua một món hàng “made in China” (hoặc của Nam Hàn, của Bangladesh, của Việt Nam) là chính Châu Âu đang “đóng góp” thải thán khí gây ô nhiễm môi trường. Nói cách khác là Châu Âu giàu có và văn minh, và có ý thức về bảo vệ môi trường, đã “uỷ nhiệm” cho các nền kinh tế đang vươn lên tiếp tục thải thán khí và gây ô nhiễm.

Trở lại bộ tam Obama-Tập-Modi. Đây là một “tập thể” tích tụ tất cả cốt lõi thực sự của vấn đề, và cũng cho người ta thấy những khác biệt chia rẽ của các siêu cường trong vấn đề kiểm soát thán khí. Cái cung cách hành xử kiểu thù hằn ái quốc của Ngài Thủ tướng Ấn Độ Modi có thể làm cho người ta bực, nhưng chính nhờ đó mà Modi đang trở thành một thứ lãnh đạo của phía “Nam bán cầu”. Có thể người ta không ưa cái lối giải quyết chuyện ô nhiễm môi trường của Modi bằng những tính toán lời lãi kiểu kế toán: đưa cho ta bao nhiêu thì ta sẽ cho mi biết là ta có thể làm tới đâu. Vì đấy là vấn đề “chuyển dịch” từ Bắc bán cầu xuống Nam bán cầu 100 tỉ đô-la hứa hẹn cho các quốc gia đang vươn lên để tài trợ cho các dự án chuyển đổi sang mô hình phát triển bền vững (sviluppo sostenibile); đó là những quỹ tài trợ khiêm tốn, và cũng chỉ tài trợ một phần nhỏ nào đó thôi. Nhưng thực ra trên ván cờ Bắc-Nam này cũng đầy những ngờ vực đố kỵ lẫn nhau. Bao nhiêu phần tiền tài trợ sẽ được dùng để “xuất khẩu” các kỹ thuật công nghệ tiên tiến “made in USA”, “made in China” hoặc “made in Germany” ? Và rồi bao nhiêu phần tài trợ này sẽ rơi vào các túi tham nhũng hối lộ của tầng lớp lãnh đạo địa phương tham ăn háo uống ?

Nhưng ngoài những nghi ngờ đố kỵ nói trên, trong câu chuyện Bắc-Nam này có một điều mà không ai có thể phủ nhận được: đó là những tấm không ảnh chụp quả địa cầu về đêm từ các vệ tinh, trong đó cường độ của các ánh sáng đèn nhân tạo phản ảnh sự giàu có thịnh vượng. Chỗ nào thiên hạ sống sung túc thì ở đó ban đêm ánh đèn sáng hơn. Bên cạnh đó là những vùng đất rộng lớn hầu như chìm ngập trong bóng tối: đó là những vùng đất phần lớn nằm ở Phi Châu, và một phần khá lớn của tiểu lục địa Ấn Độ. Và chính những tấm không ảnh đó biện minh cho những đòi hỏi ái quốc cằn cộc của Modi. Về đêm có một ngọn đèn điện trong nhà là một quyền lợi bức thiết của tất cả nhân loại: một ngọn đèn để sinh hoạt, để trẻ con có thể học hành. Chỉ một ngọn đèn điện. Nhưng vấn đề là khi “một ngọn đèn điện” ấy trở thành yêu cầu của 1,2 tỉ con người. Và với con số đông như thế thì năng lượng rẽ nhất vẫn là than đá. Cái thứ năng lượng tồi tệ ô nhiễm nhất. (Và cũng là thứ năng lượng mà Trung Quốc đang báo tháo bán đổ các nhà máy nhiệt điện chạy than cho Việt Nam – chú thích thêm của người chuyển ngữ)

Trung Quốc thì cũng đã có được một bước tiến tới. Ngọn đèn điện thì hầu như ai cũng có, thậm chí cả tủ lạnh, tivi, máy giặt … và cả xe xe ô-tô. Nhưng cái giá phải trả là bầu không khí ô nhiễm đến độ không hít thở được, đến độ mà giới thượng tầng giàu có trong xã hội Trung Quốc đang tranh nhau mua nhà ở California, không phải chỉ để biểu lộ đẳng cấp của mình, mà đấy cũng là một thứ “bảo hiểm sức khoẻ” (ngoài việc “bảo hiểm của chìm của nổi” do tham nhũng mà có – chú thích thêm của người chuyển ngữ). Tất cả những yếu tố đó đã khiến Tập Cận Bình phải quyết định đưa vấn đề chuyển đổi mô hình kinh tế sản xuất thành vấn đề ưu tiên hàng đầu, chứ không phải là một sự nhượng bộ trước áp lực của các nước Tây phương. Nhưng so với Obama thì cái khác là Tập Cận Bình có thể đưa ra hàng loạt chính sách để chuyển đổi mô hình mà không cần phải có sự đồng thuận của xã hội hay của guồng máy nhà nước (Quốc hội chẳng hạn). Trong khi đó hiện nay trên thế giới không có nơi nào đang xẩy ra một chiến dịch hung hăng nhằm phủ nhận (negazione) vấn đề thay đổi khí hậu như của đảng Cộng Hoà ở Mỹ. Các tay tài trợ của đảng Cộng Hoà và các nhóm lợi ích của “năng lượng hoá thạch” (than đá, dầu hoả)  không chùng chân trước một trở lực nào cả. Trong nhiều thập niên qua tập đoàn dầu khí Exxon đã giả mạo tất cả những con số đánh giá khoa học của chính các nghiên cứu gia của tập đoàn, vốn trùng với các đánh giá của các nhà nghiên cứu trong các giới khoa học trên thế giới. Dĩ nhiên cũng có một “nền tư bản khác”, do Bill Gates cầm đầu, đang đưa nhiều nguồn lực để tài trợ cho các công trình nghiên cứu các dự án công trình chuyển đổi bền vững. Đấy là một khúc xích quan trọng, và vấn đề hiện nay của các công trình dự án về năng lượng tái tạo là các tài trợ nhà nước, dù rằng rất quan trọng, đang làm cho mức độ tiến bộ cần thiết của khoa học kỹ thuật chậm lại … chỉ để đợi cho đến khi các năng lượng tái tạo đó … có khả năng cạnh tranh kinh tế, và nhất là để đợi phải giải quyết vấn đề tich luỹ các năng lượng tái tạo không ô nhiễm này.

Liên Hiệp Quốc thì đánh giá rằng cuộc họp thượng đỉnh COP21 này ở Paris là … “hy vọng cuối cùng của nhân loại”. Điều chắc chắn đây là cơ hội để các lãnh đạo thế giới cho thấy đây là một cuộc thử thách chung của cả nhân loại, và ai vẫn còn nghĩ là có thể dồn đẩy những khó khăn cho người khác có nghĩa là đã không biết đầu tư lâu dài … thậm chí cũng không nghĩ đến ích lợi riêng tư của chính đất nước mình. 

Roma, 30/11/2015

chuyển ngữ

20 tháng 11, 2015

Phương trình ... một vế !!!



Thường đời hễ thấy ai hoạn nạn tai ương thì mọi người đỗ xô vào an ủi, động viên, bày tỏ đoàn kết. Điều này cũng đúng, rất đúng: một cử chỉ vừa mang tính nhân bản vừa văn minh. Mấy hôm nay cả ngày các mạng truyền thông không ngớt đưa tin cả thế giới xúm nhau an ủi động viên, tỏ tình đoàn kết với nhân dân Pháp vì những tai ương khủng bố mà Pháp đang phải hứng chịu. “Je suis parisien”. Đi đâu cũng thấy nhan nhãn khẩu hiệu như thế. Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ. Báo chí không ngớt đưa tin về những hành động tàn sát vô nhân đạo và không văn minh của bọn khủng bố Hồi giáo cực đoan, của cái đám gọi là “Nhà nước Hồi Giáo”, đó là những bọn chỉ muốn chống phá triệt tiêu cái gọi là “nền dân chủ” (ở đây mọi người điều ngầm hiểu là nền dân chủ Tây phương – chẳng ai nói công khai ra, nhưng chắc không phải ám chỉ nền dân chủ xã hội chủ nghĩa của mấy con rồng rắn Á Châu hay của tân Đế chế Nga).

Những điều vừa kể trên là rất đúng, rất văn minh, nhân bản. Nhưng nó chỉ có thể áp dụng cho những người dân bình thường, những người đích thực đang bị đe doạ bởi những hiểm hoạ khủng bố từ mấy thập niên trở lại đây. Và những đe doạ này xem ra ngày có chiều hướng “tăng tốc”. Trên trang web của tờ Internazionale có đăng một bài kê khai đầy đủ những cuộc khủng bổ xẩy ra ở Châu Âu từ 1995 đến nay – tức là trong hai thập niên chót – Una cronologia degli attacchi terroristici in Europa. Còn đối với những giới lãnh đạo nhà nước Tây phương … thì mọi chuyện có phần “khúc mắc” hơn. Khi các lãnh đạo Tây phương (Tổng thống, Thủ tướng, các Bộ trưởng, các Chủ tịch của trăm thứ ban bệ của UE ….) bày tỏ sự đau xót, bức xúc trước những đau thương của người dân vô tội, căm giận lên án bọn “vô nhân vô nghĩa vô đạo” chỉ muốn chống phá lại những giá trị dân chủ …. thì các Ngài ấy chỉ mới nói đến vế hai. Còn cái vế một, cái đã làm sinh sản ra những cái quái thai Hồi giáo cực đoan … thì không thấy các Ngài nói đến. Báo chí truyền thông phần lớn chịu áp lực của lãnh đạo Tây phương … cũng im lặng. Cứ như là “tự trên trời rớt xuống” những quái thai nói trên, những con quái vật tự nhiên xuất hiện rồi nhào sang đòi san bằng cả một nền dân chủ ngàn năm của Châu Âu.

Có nhiều chuyện kể ra … cứ như chuyện … khó tin mà có thật, thứ chuyện phong thần.

Một trái hoả tiển, một khẩu súng, một băng đạn, tất cả những thứ đó … đâu phải “rẽ như bèo”, cũng toàn là tiền không đấy chứ. Muốn trang bị cho những đám võ trang đi đánh phá chiếm cứ các khu vực chung quanh các quốc gia như Iraq, Siria, Libia …. Thì cũng cần có tiền, chứ đâu phải tự dưng mà chúng nó có vũ khí. Rồi cái Nhà nước Hồi giáo cũng phải trả lương cho những “nhân viên” làm việc cho chúng, thậm chí … nghe nói là cái Nhà nước Hồi giáo này cũng có đầy đủ các ban bệ Bộ này Vụ nọ … cứ như là một cơ chế nhà nước thật sự … Thì cũng cần có tiền chứ … Để làm ra tiền, cái Nhà nước Hồi giáo này “kinh doanh đủ thứ”: từ buôn lậu ma tuý đến bắt cóc để đòi tiền chuộc, từ việc tổ chức các tuyến thuyền nhân vượt biển đến việc buôn bán nô lệ …  Nhưng cái “khâu” đẻ ra tiền nhiều nhất cho cái Nhà nước Hồi giáo này là …. buôn bán chợ đen dầu hoả. Vì trong một số khu vực mà cái Nhà nước Hồi Giáo đã chiếm lấy của Iraq, của Siria, của Libia … có các giếng dầu hoả. Theo tin một số báo chí thì các giếng dầu hoả đem về cho cái Nhà nước Hồi giáo mỗi tháng khoảng 50 triệu đô-la (http://www.ilfattoquotidiano.it/2015/11/17/attentati-parigi-lisis-e-la-risorsa-strategica-del-petrolio/2226943/). 50 triệu đô-la là ít đấy, bởi vì dầu hoả đang xuống giá, và Nhà nước Hồi giáo cũng phải bán chợ đen với giá thấp hơn giá thị trường. Người ta kể rằng mỗi ngày có cả hàng đoàn xe tải dầu sắp hàng cả mấy cây số để lấy dầu hoả đem đi “phân phối chợ đen”. Không thấy báo nào nói “ai” mua dầu hoả chợ đen của Nhà nước Hồi giáo. Nhưng chắc chắn không phải dầu hoả chợ đen là để bán cho các đám băng đảng Hồi giáo cực đoan … Một số “tin đồn” thì nói là các xe tải dầu này chạy đến các nhà máy lọc dầu nằm ngoài “lãnh thổ” của Nhà nước Hòi giáo, rồi dầu hoả này được bán chợ đen và được pha chung với dầu hoả “minh bạch” của các nhà máy lọc dầu … không do Nhà nước Hồi giáo kiểm soát … rồi dầu hoả đó sẽ được bán công khai theo giá thị trường cho … toàn thế giới. Lãi cao hơn, vì dầu hoả mua chợ đen của Nhà nước Hồi giáo thấp hơn dầu hoả trên thị trường.

Chịu thôi. Business là business. Chứ thử hỏi có khó gì mà không oanh tạc mấy cây số xe tải dầu mỗi ngày sắp hàng ở các giếng dầu do Nhà nước Hồi giáo kiểm soát ? Kỹ thuật quốc phòng của các nước Tây phương … nghe nói còn dội bom trúng những chiếc xe trá hình chở tên này tên kia … thì chẳng lẽ không thấy mấy cây số xe tải sắp hàng mỗi ngày ? Chuyện rất đơn giản. Nếu các chính phủ Tây phương “thực tâm” muốn triệt tiêu cái gọi là Nhà nước Hồi giáo … thì cũng chẳng cần phải oanh tạc mỗi ngày hàng trăm phi vụ … Chỉ cần dội bom chung quanh mấy cái giếng dầu … là chng ba tháng sau Nhà nước Hồi giáo …. “tự sụp đỗ” như chính cái Nhà nước Liên Xô đã tự sụp đỗ vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước. Nói chung, là chỉ cần “phong toả cấm vận” các tuyến buôn bán chợ đen dầu hoả … là giải quyết chuyện Nhà nước Hồi giáo …

Thế mà cả mấy năm nay chẳng chính phủ Tây phương nào làm chuyện này cả. Thay vào đó là các Ngài cứ “tranh luận” là nên can thiệp từ trên không, từ mặt biển, hay đỗ quân lên đất liền … Kiểu lắm thầy thối ma … bệnh nhân ngày càng trầm trọng …

Nhưng thực ra thì vấn đề cũng không phải chỉ đơn giản ở chỗ “business là business” như kể trên (ở cái khoảng “business là business” thì chắc … anh Trung Quốc cũng … có phần trong đó, nhất là cái guồng máy kinh tế của Trung Quốc đang uống dầu hoả như anh nghiện rượu uống whisky thay nước lã).

Vấn đề còn tồi tệ hơn. Kể từ khi anh Bush đem quân sang đánh cái thằng Sadam … để “giải phóng” Iraq … thì cái xứ Iraq hiện nay … gần như không còn hiện hữu. Cái gọi là nhà nước Iraq thực ra chỉ là một thứ bù nhìn, chỉ cần Mỹ cúp viện trợ là trong vòng 24 tiếng đồng hồ là Iraq bị xoá xổ (xem ra cũng y hệt như cái chính quyền miền Nam của các tướng lãnh “trẻ” do Mỹ dựng lên thời nẫm). Cái xứ Siria thì sau 5-6 năm nội chiến, hiện nay nhà nước Siria cũng không biết còn thọ bao lâu. Chỉ cần Mỹ và Nga “đồng ý” với nhau cho bật đèn là trong vòng 24 tiếng đồng hồ anh chàng Asad sẽ được cho đi làm “đại sứ lưu động” ngay như thời Nguyễn Khánh ở miền Nam. Nhà nước Libia thì sau “Mùa xuân Ả Rập” lật đỗ được chế độ Ghedafi .. thì xem ra vẫn chỉ là những nhóm băng đảng bộ lạc cầm quyền kiểu “sứ quân cắt cứ” … Tất cả những rối loạn nói trên … thực ra là cả một cuộc tranh hùng một mất một còn của hai phe phái sắc tộc Hồi giáo: phe Shias và phe Sunni. Iran (cựu Ba Tư) là quốc gia Ả Rập lớn nhất của sắc tộc Shias. Ả Rập Saudit là quốc gia lớn nhất của sắc tộc Sunni. Kể từ kia Iraq bị sụp đỗ và bị chia ra manh múng, rồi kế tiếp là khủng hoảng ở Libia và Siria, hai sắc tộc nói trên đang tìm cách lợi dụng bất ổn định trong khu vực để tìm  cách “vẽ lại” bản đồ địa chính trị trong khu vực có lợi cho phe sắc tộc của mình. Cái Nhà nước Hồi giáo thực ra chỉ là công cụ của các nước Ả Rập theo sắc tộc Shias, đứng đâu là Ả Rập Saudit – và ai cũng biết chính Ả Rập Saudir là “sponsor” của Nhà nước Hồi Giáo. Xuyên qua Nhà nước Hồi giáo, Ả Rập Saudit muốn kiềm chế Iran. Các nước Tây phương thì để kiềm chế Nhà nước Hồi giáo nên gần đây đã “làm hoà bắt tay” với Iran – vốn cho đến năm ngoái còn là thù địch của Tây phương và là mối đe doạ hạt nhân cho Tây phương.

Chẳng chính phủ Tây phương nào – và cả Nga cũng thế - dại dột đỗ quân lên đánh Nhà nước Hồi giáo. Họ đang đợi cho hai phe phái sắc tộc Shias và Sunni … tự “tiêu diệt” nhau …. Và trong khi đó, các nước Tây phương vẫn tiếp tục bán vũ khí cho đủ các bên: cho Ả Rập Saudit, cho Qata, cho Kuwai, cho Israel, và trong tương lai cho cả Iran … và tiếp tục mua dầu hoả chợ đen của Nhà nước Hồi giáo …

Và vẫn sẽ tiếp tục bày tỏ sự đau xót, bức xúc trước những đau thương của người dân vô tội, căm giận lên án bọn “vô nhân vô nghĩa vô đạo” chỉ muốn chống phá lại những giá trị dân chủ … bla bla !!!

Một phương trình phải có hai vế. Các lãnh đạo Tây phương chỉ nói có một vế. Cái vế mà người dân Tây phương phải chịu đựng … Còn cái vế kia ???

Roma, 20/11/2015

PS: Chắc chắn là từ đây cho đến năm 2016 Mỹ sẽ không có những quyết định can thiệp quân sự nào “ra hồn” ở Trung Đông. Obama muốn được đưa vào lịch sử như là vị Tổng Thống đã không “đưa linh Mỹ” đi đâu cả, thậm chí còn “đem được lính Mỹ” từ Iraq và Afganistan về nhà. Nhưng một số tài liệu từ Ngũ Giác Đài cho biết là các tướng Mỹ đang chuẩn bị các kế hoạch quân sự can thiệp từ năm 2016: vì sau Obama, bất cứ một Tổng thống nào, dù của Dân Chủ hay Cộng Hoà, sẽ không còn “bị ràng buộc lịch sử” như Obama … và các tướng tá Mỹ đang háo hức trong chờ  … cũng như các đám tài phiệt buôn bán vũ khi háo hức không kém. Và Trung Quốc cũng háo hức. Vì Trung Quốc chỉ muốn Mỹ “pivot” về lại Châu Âu, trả lại Biển Đông cho Trung Quốc !!!

11 tháng 10, 2015

Một bức ảnh lịch sử đầy cảm động … nhưng không có hậu !!!


Sau khi hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973 giữa nhà cầm quyền Hà Nội và Hoa Thịnh Đốn, ngay sau đó các phi công tù nhân Mỹ (POWs) bắt đầu được trao trả về Hoa Thịnh Đốn.
 
Thời đó, một trong những bức ảnh nỗi tiếng cảm động tả cảnh “coming back” của các tù nhân Mỹ là bức ảnh dưới đây, chụp ngày 17/03/1973 tại một căn cứ không quân Mỹ ở California: Trung tá  Robert L. Stirm bước xuống máy bay và được toàn thể gia đình anh ta chạy đến đón mừng anh trở về nhà: ngay phía trước mặt Stirm là đứa con gái lớn Lorrie 15 tuổi, phía sau là cậu con trai Robert 14 tuổi, kế đến là cô con gái út Cynthia 11 tuổi, bà vợ Loretta và sau cùng là cậu con trai Roger 12 tuổi.



Phóng viên chụp ảnh là Sal Veder, ký giả ảnh của hảng thông tấn Associated Press (AP). Bức ảnh này sau đó đã thắng giải Pulitzer prize năm 1974 với tên "Burst of Joy".

Sau đây là tường thuật của Sal Veder hôm đó: hồi đó tôi làm việc cho AP, và cũng vì thế tôi đã có dịp chụp ảnh trong rất nhiều sự kiện quan trọng: từ trận động đất ở Alaska năm 1964 đến thảm hoả xảy ra ở các hầm mỏ than đá, từ các trận đấu quyền Anh hay những trận football cho đến những cuộc phóng phi thuyền vệ tinh vào không gian. Có lần vệ tinh “hạ cánh” xuống mặt biển Thái Bình Dương và được tàu sân bay đến vớt lên và tôi cũng đã có mặt trên tàu sân bay đó. Toàn là những sự kiện hào hứng, thích thú: người nhiếp ảnh chờ đợi, chuẩn bị … và sau đó anh ta chỉ có vài giây để chụp lấy những khoảnh khắc “lịch sử”.

Nhưng bên cạnh những sự kiện hào hứng thích thú như tôi vừa nói, cũng có những tình cảnh bi thảm. Trong đời nhiếp ảnh tôi đã có hai lần “đụng” đến cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Bản thân tôi chưa bao giờ nhìn thấy tận mắt những cuộc giao tranh. Thời đó chiến tranh Việt Nam là một trong những đề tài “hấp dẫn” của đám ký giả chúng tôi, khoảng giữa những thập niên 70 ai cũng hăng hái nhận lệnh đi đến Việt Nam

Tháng 3 năm 1973, tôi được lệnh bám sát căn cứ không quân Mỹ Travis trên bờ biển Thái Bình Dương, ở vùng California, vì lúc ấy hằng ngày có những chuyến máy bay chở các phi công tù nhân Mỹ được Hà Nội trao trả về cho Hoa Thịnh Đốn. Tôi là một trong hai ký giả nhiếp ảnh của AP. Máy bay lên xuống rườm rượp từ sáng đến chiều. Một trong hai đứa tôi phụ trách “phòng tối” dã chiến, còn người kia thì lo chụp ảnh. Thời đó không phải như bây giờ, phim hình chụp xong cần có phải có phòng tối làm bằng vải nhựa đen, và cần phải có rất nhiều nước và hoá chất để tráng phim và rọi ảnh.

Hôm đó “phòng tối dã chiến” được chúng tôi dựng ngay trong phòng vệ sinh của phụ nữ ở phi trường, và tôi được cắt phiên chụp ảnh. Có một khu vực tiếp tân nơi các máy bay taxi đáp xuống, ở đó các tù nhân Mỹ sẽ hội ngộ với gia đình. Các phóng viên, các ký giả nhiếp ảnh không được phép chạy lăng xăng, tất cả bọn chúng tôi được tập trung trên một khán đài gần đấy. Trên khán đài đầy nghẹt phóng viên, chừng độ đến 40 người, các ký giả nhiếp ảnh tranh nhau chụp ảnh.

Bỗng có một gia đình không biết từ đâu xuất hiện, họ bước xuống xe và chạy lao đến người quân nhân Mỹ, người tù binh POW đã ở năm năm trong trại giam của Hà Nội. Tôi liếc thấy họ, lập tức tôi quay về hướng đó và bắt đầu bấm máy ảnh lia lịa. Dù khoảnh cách rất xa giữa họ với chúng tôi, nhưng tôi cũng nhận ra những cảm xúc trên gương mặt của họ, qua những bộ điệu chạy nhảy như lao đến người quân nhân. Một cảm xúc to lớn lan truyền đến cả các đám phóng viên ký giả chúng tôi.
 
Trong khi những người thân trong gia đình hồ hởi lao đến thì người quân nhân, Trung tá Robert L Stirm có vẻ khắc kỷ, dáng điệu rất hình thức, thậm chí có vẻ căng thẳng, anh ta bước đến một cách đĩnh đạc, chậm chạp. Sau đó là cả gia đình đến ôm lấy anh ta.

Sáu tháng sau đó, chúng tôi mới biết là bà vợ của Trung tá Stirm trước đó đã làm đơn xin ly dị và cũng đã viết thư thông báo cho Stirm biết trước khi anh ta trở về Mỹ. Tôi không biết rõ lý do của quyết định ly dị. Tôi tự nghĩ, giá như nếu không có tin vợ xin ly dị trước đó thì chắc có lẽ Stirm sẽ có những thái độ khác hoàn toàn với thái độ hôm đó. Sau ngày hội ngộ với nhau, vài tuần sau đó hai người đã chính thức làm thủ tục xa nhau vĩnh viễn.

Hôm đó, ngoài tôi ra cũng còn có một ký giả nhiếp ảnh khác của tờ San Francisco Examiner, cũng chụp một bức ảnh tương tự, hai bức ảnh chẳng khác chi tiết bao nhiêu, nhưng sau đó người ta đã chọn tấm ảnh của tôi cho giải Pulitzer prize. Tôi xem như đó là một điều hoàn toàn do may mắn. Quả thật tôi rất bất ngờ khi hay tin tấm ảnh của tôi thắng giải, thậm chí tôi cũng đã không biết trước là AP đã đăng ký dự giải thi ảnh bằng tên của tôi.
Dĩ nhiên cuộc đời ký giả nhiếp ảnh của tôi không dừng lại ở đó. Tôi đã quay trở lại chụp ảnh với những sự kiện bình thường khác.

Roma, 11/10/2015
(viết theo bài trên trang báo mạng "The Guardian")